|
Pa Kô được bổ sung vào danh mục các dân tộc Việt Nam
|
|
|
|
UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế vừa phê duyệt đề cương Đề án “Bổ sung dân tộc Pa Kô vào danh mục các dân tộc Việt Nam”, theo đó vào năm 2009 dân tộc này sẽ trở thành thành viên thứ 55 trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.
|
|
|
|
Cần bảo tồn kiến trúc nhà sàn dài truyền thống của đồng bào Êđê
|
|
|
|
|
(ĐCSVN) - Kiến trúc nhà sàn dài của đồng bào dân tộc Êđê ở Đắc Lắc nói riêng, Tây Nguyên nói chung, đang ngày càng mất dần. Thay thế vào đó là các kiểu kiến trúc nhà ở của người Kinh trong các buôn làng đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ. Đắc Lắc vẫn chưa có biện pháp bảo tồn, phát triển văn hoá nhà dài truyền thống của đồng bào dân tộc Êđê.
|
|
|
|
Người Triêng với cây đinh tút
|
|
|
|
|
Qua bao đời nay, người Triêng vẫn lưu giữ nhiều vốn văn hóa quý, trong đó có âm nhạc truyền thống và đặc biệt giá trị của loại sáo đinh tút, làm phong phú thêm đời sống văn hóa tinh thần.
|
|
|
|
|
|
Dân tộc Tày
|
|
|
|
|
Dân tộc Tày là một cộng đồng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái có số dân khoảng 1.500.000 người, đông nhất trong các dân tộc thiểu số nước ta.
|
|
|
|
Dân tộc Thổ
|
|
|
|
|
Dân tộc Thổ có hơn 68.000 người, sinh sống ở miền tây tỉnh Nghệ An. Người Thổ có các nhóm địa phương là: Kẹo, Mọn, Cuối, Họ, Tày Poọng, Đan Lai, Ly Hà. Tiếng Thổ thuộc nhóm ngôn ngữ Việt-Mường.
|
|
|
|
Dân tộc Sán Dìu
|
|
|
|
|
Dân tộc Sán Dìu có khoảng 126.000 người, phân bố ở miền trung du thuộc các tỉnh Quảng Ninh, Hưng Yên, Bắc Giang, Phú Thọ, Bắc Cạn, Thái Nguyên và Tuyên Quang. Dân tộc Sán Dìu còn có tên gọi khác là: Sán Dẻo, Trại, Trại Đất, Mán Quần cộc. Tiếng Sán Dìu thuộc nhóm ngôn ngữ Hán.
|
|
|
|
Dân tộc Xtiêng
|
|
|
|
|
Dân tộc Xtiêng có hơn 67.000 người. Đồng bào cư trú tập trung tại tỉnh Bình Phước và một phần sinh sống ở Đồng Nai và Tây Ninh. Có thể phân biệt hai nhóm Xtiêng là Bù Đéc và Bù Lơ. Nhóm Bù Đéc ở vùng thấp, biết làm ruộng nước và dùng trâu, bò kéo cày từ khá lâu. Nhóm Bù Lơ ở vùng cao, làm rẫy là chủ yếu, sống gần gũi với người Mnông và người Mạ. Dân tộc Xtiêng còn có tên gọi là Xa-điêng. Tiếng Xtiêng thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer.
|
|
|
|
Dân tộc Sán Chay
|
|
|
|
|
Dân tộc Sán Chay còn được gọi là Cao Lan, Sán Chỉ, Mán, Hờn Bạn, gồm hơn 147.000 người. Đồng bào cư là trú chủ yếu ở Tuyên Quang, Bắc Cạn Thái Nguyên, Bắc Giang và rải rác ở các tỉnh: Quảng Ninh, Yên Bái, Lạng Sơn, Phú Thọ. Người Sán Chay gồm hai nhóm phân biệt với nhau về ngôn ngữ. nhóm nói tiếng Cao Lan gần gũi với tiếng Tày, Nùng và nhóm nói tiếng Sán Chỉ gần với thổ ngữ Hán phương Nam.
|
|
|
|
Dân tộc Xơ-Đăng
|
|
|
|
|
Dân tộc Xơ-đăng có gần 127.000 người, cư trú tập trung ở tỉnh Kon Tum, một số ít ở miền núi của tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Quảng Nam. Dân tộc Xơ-đăng có các nhóm địa phương: Xơ-đăng (Hđang), Cà-dong, Tơ-đrá, Mơ-nâm, Hà-lăng. Tiếng Xơ-đăng thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer. Người Xơ-đăng tin ở vạn vật hữu linh, thờ nhiều thần liên quan đến sản xuất và sinh hoạt.
|
|
|
|
Dân tộc Xinh-mun
|
|
|
|
|
Dân tộc Xinh-mun có hơn 18.000 người, cư trú ở vùng biên giới Việt - Lào thuộc hai tỉnh Sơn La, Lai Châu. Người Xinh-mun còn có tên gọi là Puộc, Pụa. Tiếng nói dân tộc Xinh-mun thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer.
|
|
|
|
Dân tộc Tà - ôi
|
|
|
|
|
Dân tộc Tà-ôi có trên 35.000 người, bao gồm 3 nhóm: Ta-uốt (Ta-ôi, Tà-hoi), Pa cô, Ba hi. Đồng bào sống tập trung ở huyện A Lưới (Thừa Thiên - Huế) và Hương Hóa (Quảng Trị). Tiếng Tà-ôi thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer và gần gũi với tiếng Bru-Vân Kiều, Cơ-tu.
|
|
|
|
Dân tộc Si La
|
|
|
|
|
Người Si La có tên gọi khác là Cú Dề Xừ, Khả Pẻ. Đồng bào sống ở ba bản Seo Hay, Sì Thâu Chải, Nậm Xìn thuộc huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. Dân số khoảng 840 người. Tiếng nói dân tộc Si La thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến.
|
|
|
|
Dân tộc Ơ-đu
|
|
|
|
|
Theo kết quả khảo sát gần đây nhất do Hội đồng Dân Tộc của Quốc hội tiến hành thì dân tộc Ơ-đu hiện có lẻ 300 người, cư trú tập trung ở hai bản Kim Hòa, Xốp Pột (xã Kim Đa) và một số cư trú lẻ tẻ ở các bản các xã kế cận, thuộc huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Người Ơ-đu còn gọi là Tày Hạt. Tiếng Ơ-đu thuộc nhóm ngôn Ngữ môn-Khmer, nhưng hiện nay không còn được sử dụng nữa.
|
|
|
|
Dân tộc Mảng
|
|
|
|
|
Người Mảng có trên 2.600 nhân khẩu, cư trú tại một số xã thuộc 4 huyện Sìn Hồ, Mường Tè, Phong Thổ và Mương Lay tỉnh Lai Châu. Người Mảng còn có những tên gọi như Mảng Ư, Xá Lá vàng.
|
|
|
|
Dân tộc Rơ-măm
|
|
|
|
|
Dân tộc Rơ-măm có khoảng 350 người, cư trú ở làng Le, là xã Mo Rai, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum. Tiếng Rơ-măm thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer.
|
|
|
|
Dân tộc Ra-Glai
|
|
|
|
|
Dân tộc Ra-glai có trên 97.000 người, cư trú chủ yếu ở phía Nam tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận. Người Ra-glai còn có những tên gọi như Ra-glây (Rắc lây), Rai, Trong Giai,... Tiếng Ra-glai thuộc hệ ngôn ngữ Nam Đảo.
|
|
|
|
Dân tộc Pu Péo
|
|
|
|
|
Dân tộc Pu Péo có gần 700 người, sống tập trung vùng biên giới Việt -Trung thuộc các huyện Đồng Văn, Yên Minh, Mèo Vạc tỉnh Hà Giang. Người Pu Péo còn có tên gọi khác là Ka Beo, Pan ti Lô Lô. Tiếng Pu Péo gần với tiếng nói của các dân tộc Cờ Lao, La Chí, La Ha, và thuộc nhóm ngôn ngữ Kađai.
|
|
|
|
Dân tộc Phù Lá
|
|
|
|
|
Dân tộc Phù Lá có gần 9.000 người, bao gồm cả nhóm Xá Phó. Đồng bào sống ở các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Hà Giang, đông nhất là ở Lào Cai. Ngoài tên Phù Lá, đồng bào còn có các tên gọi khác: Bồ Khô Pạ, Mú Dí Pạ, Va Xơ Lao... Tiếng Phù Lá thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến. Người Phù Lá thờ tổ tiên và tin vạn vật hữu linh.
|
|
|
|
Dân tộc Pà Thèn
|
|
|
|
|
Dân tộc Pà Thèn có khoảng 5.600 người. Đồng bào cư trú tập trung ở một số xã của tỉnh Hà Giang và tỉnh lỵ Tuyên Quang. Người Pà Thèn còn có tên gọi khác là: Pà Hưng. Tiếng Pà Thèn thuộc hệ ngôn ngữ Mông-Dao.
|
|
|