Đó là nhận định của GS. TS Trần Thục - Hội Khí tượng Thủy văn Việt Nam khi trao đổi với phóng viên báo chí về những điểm tương đồng và khác biệt của việc dự báo khí tượng thủy văn (KTTV) hiện nay của Việt Nam so với thế giới, và việc ngành KTTV cần làm gì để dự báo hiệu quả hơn...

Phóng viên (PV): Biến đổi khí hậu (BĐKH) đã và đang tác động làm cho thời tiết diễn biến bất thường. Vậy để dự báo, cảnh báo sự thay đổi của thời tiết, khí hậu, công nghệ dự báo của Việt Nam hiện nay như thế nào, khi đặt trong bức tranh chung của thế giới, thưa Giáo sư?

GS. Trần Thục: Nhìn nhận tổng quan về công nghệ dự báo thì có thể thấy, chúng ta đã áp dụng các công nghệ hiện đại của thế giới. Thông qua các hoạt động hợp tác quốc tế, Việt Nam đã tiếp nhận và áp dụng một số mô hình dự báo thời tiết hiện đại của thế giới.

Việc dự báo thời tiết ở Việt Nam là kết hợp giữa mô hình số trị và phân tích sy-nốp, sử dụng số liệu thực đo tại các trạm quan trắc KTTV, số liệu radar thời tiết, thám không, cộng với các phương pháp thống kê để đưa ra bản tin dự báo thời tiết, đặc biệt là đối với các điều kiện thời tiết nguy hiểm.

Tôi tin tưởng rằng, dự báo của Việt Nam cho Việt Nam tốt hơn dự báo của thế giới cho Việt Nam. Như đã phân tích, khi một cơn bão đến gần bờ, điều kiện địa hình và mặt đệm làm thay đổi cấu trúc của bão. Vì thế, nếu chỉ dựa vào kết quả tính toán từ mô hình là hoàn toàn không đủ, mà cần phải phân tích sâu, dựa trên số liệu quan trắc tại các trạm, số liệu radar, thám không và phương pháp thống kê để hiệu chỉnh kết quả từ mô hình số trị. Vậy, có thể khẳng định rằng: Dự báo của Việt Nam cho Việt Nam sẽ tốt hơn dự báo của thế giới cho Việt Nam.

GS. TS Trần Thục  - Hội Khí tượng Thủy văn Việt Nam. (Ảnh: Hội KTTV Việt Nam)

PV: Trong tình hình thời tiết có nhiều bất thường, công tác dự báo KTTV của Việt Nam cần cải thiện như thế nào để tốt hơn, thưa Giáo sư?

GS. Trần Thục: Với tác động của BĐKH thì thời tiết đã, đang và chắc chắn sẽ có những thay đổi theo hướng bất lợi, các cực đoan thời tiết, khí hậu sẽ gia tăng cả về cường độ lẫn tần suất. Vì thế, công tác dự báo đối với ngành KTTV cần phải tăng cường hơn nữa.

Theo tôi, những bản tin dự báo cần chuyển tải những thông tin mang tính chuyên môn sâu thành những ngôn ngữ dễ hiểu đối với người dân và chính quyền ở địa phương. Những kết quả dự báo cần được hiển thị một cách trực quan hơn.

Một điều quan trọng nữa là, cùng với các bản tin dự báo các yếu tố KTTV, cần có cảnh báo về rủi ro mà cảnh điều kiện KTTV này có thể gây ra.

Có thể ví dụ, việc dự báo lũ cấp báo động 3 trên một sông nào đó, nên kèm theo thông tin cảnh báo là khu vực nào có thể bị ngập và rủi ro về tổn thất và thiệt hại có thể có. Điều này sẽ giúp người dân biết được rủi ro đối với chính mình để quyết định sơ tán hay có các biện pháp phòng chống phù hợp; đồng thời giúp cho chính quyền địa phương có kế hoạch sơ tán dân hay hỗ trợ người dân để tránh những thiệt hại, đặc biệt là thiệt hại về người. Trên thế giới, đặc biệt là ở các nước phát triển, bản đồ rủi ro thiên tai theo thời gian thực đã được áp dụng rất hiệu quả. Chúng ta cũng cần cố gắng xây dựng những bản đồ như vậy.

Cụ thể là cùng với bản tin dự báo, cần cảnh báo được cho người dân biết thêm mức độ rủi ro như thế nào. Ví dụ, dự báo bão vào một khu vực nào đó thì cần thêm thông tin về khả năng xảy ra và mức độ tác động đối với khu vực đó. Điều này sẽ giúp người dân lường trước và chủ động được việc phòng tránh.

Thực tế, với những tác động của BĐKH, công tác dự báo cần được tăng cường hơn nữa. Tất nhiên, khó có thể yêu cầu rằng dự báo KTTV là chính xác hoàn toàn. Nhưng tôi tin, với những nỗ lực như hiện nay thì công tác dự báo KTTV của Việt Nam sẽ ngày càng tiến bộ, phục vụ đắc lực cho công tác giảm nhẹ rủi ro thiên tai và đóng góp cho sự phát triển bền vững của đất nước.

PV: Trân trọng cảm ơn Giáo sư!

Bích Liên