Chương III: Đảng bộ lãnh đạo nhân dân tiến hành cải tạo XHCN và xây dựng CNXH (1954 – 1965)

Cập nhật lúc 14h39  -  Ngày 08/06/2017

share facebookgửi emailin bài này

Chương III

ĐẢNG BỘ LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN TIẾN HÀNH CẢI TẠO XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI 

I. KHÔI PHỤC KINH TẾ, HOÀN THÀNH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT (1954 - 1957)

Cuộc kháng chiến lâu dài và anh dũng chống thực dân Pháp xâm lược (12/1946 - 7/1954) của nhân dân ta kết thúc thắng lợi. Cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới: Miền Bắc hoàn toàn giải phóng, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa; Miền Nam còn tạm thời bị đế quốc Mỹ và bọn tay sai thống trị, phải tiếp tục đấu tranh hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất Tổ quốc.

Tuy phải rút khỏi miền Bắc nước ta, song thực dân Pháp vẫn vi phạm lệnh ngừng bắn, trì hoãn việc tập kết, chuyển quân; tháo gỡ mang đi, phá huỷ nhiều máy móc, công cụ sản xuất và tài sản công cộng gây nên tình trạng rối loạn và căng thẳng ở vùng mới giải phóng. Ở Ninh Bình, nhiều nơi đồn bốt ngổn ngang gạch đá; dây kẽm gai, bãi mìn, đồng ruộng bị bỏ hoang hoá 1).

Đế quốc Mỹ và tay sai tìm mọi cách chống phá cách mạng Việt Nam, tập hợp những đảng phái phản cách mạng 2) và phần tử phản động, tuyên truyền, xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng và Chính phủ, nói xấu chế độ….tung tin sẽ ném bom nguyên tử và đánh ra miền Bắc gây tâm lý hoang mang lo sợ trong quần chúng, dụ dỗ, cưỡng ép đồng bào ta di cư vào Nam, làm mất ổn định an ninh, làm suy yếu lực lượng cách mạng gây khó khăn việc khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục sản xuất của nhân dân ta.

Ngay sau khi giải phóng, khu uỷ III cử cán bộ về cùng Tỉnh uỷ Ninh Bình chỉ đạo việc tiếp quản vùng mới giải phóng. Uỷ ban quân chính thị trấn Phát Diệm (thuộc huyện Kim Sơn) được thành lập 3).

Ngày 26/8/1954, hội nghị Tỉnh uỷ quyết định 9 công tác sau ngày giải phóng nhằm ổn định tình hình kinh tế - xã hội, tinh thần tư tưởng nhân dân, đoàn kết toàn dân thực hiện nhiệm vụ mới: Tiếp quản vùng mới giải phóng, xây dựng quê hương, chống địch cưỡng ép di cư, phá hoại cách mạng.

Huyện uỷ các huyện Kim Sơn, Yên Mô và Thị uỷ Ninh Bình đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, tổ chức nhân dân học tập 8 chính sách của Chính phủ đối với vùng giải phóng. Đặc biệt tập trung tuyên truyền chính sách khoan hồng của Đảng và Chính phủ đối với những người trước đây lầm đường lạc lối theo giặc nay thực sự hối cải tự nguyện trở về với nhân dân, kêu gọi nguỵ quyền, nguỵ quân và phổ biến sâu rộng chính sách tôn giáo, tự do tín ngưỡng để vận động đồng bào theo đạo Thiên chúa ở lại quê  hương không nghe theo địch di cư vào Nam.

Các cấp uỷ Đảng và chính quyền vùng mới giải phóng đã chủ động làm tốt công tác tuyên truyền thực hiện các chính sách của Đảng và Chính phủ. Nhờ vậy, việc tiếp quản vùng mới giải phóng thu được kết quả tốt. Tư tưởng nhân dân nhanh chóng ổn định, đời sống không bị xáo trộn. Số đông nguỵ quyền, nguỵ quân ra trình diện nộp vũ khí và giấy tờ cho chính quyền cách mạng. Tính đến tháng 12/1954 đã có 3395 nguỵ quân và 227 nguỵ quyền ra trình diện. Thị trấn Phát Diệm là địa phương làm tốt công tác tiếp quản vùng giải phóng, nhất là việc kêu gọi công chức cũ và binh sĩ ngụy ra trình diện. Có ngày số người ra trình diện chính quyền cách mạng lên đến 50-60 người. Giáo dân đến nhà thờ làm lễ bình thường.

Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng (tháng 9/1954) ra nghị quyết chỉ rõ nhiệm vụ cụ thể trong giai đoạn cách mạng mới: “Trong một thời gian nhất định, nhiệm vụ chung của Đảng ta là đoàn kết và lãnh đạo toàn dân đấu tranh thực hiện Hiệp định đình chiến, đề phòng và khắc phục mọi âm mưu phá hoại hiệp định đình chiến để củng cố hòa bình, ra sức hoàn thành cải cách ruộng đất, hục hồi và nâng cao sản xuất, tăng cường củng cố quân đội nhân dân để củng cố miền Bắc, giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân miền Nam nhằm củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc”.

Thực hiện Nghị quyết của Trung ương, Đảng bộ Ninh Bình tập trung lãnh đạo công tác tiếp quản vùng mới giải phóng, chống định cưỡng ép di cư, chăm lo đời sống nhân dân, hoàn thành cải cách ruộng đất. Đồng thời, Tỉnh uỷ nhắc nhở đảng viên, cách mạng, rèn luyện ý chí chiến đấu, khắc phục tư tưởng hoà bình, nghỉ ngơi, hưởng lạc, thủ tiêu đấu tranh.

Ngay sau khi hoà bình lập lại, công tác xã hội củng cố tổ chức Đảng, chính quyền dân chủ nhân dân và các đoàn thể quần chúng được Đảng bộ chú trọng. Những vùng mới giải phóng thiếu nhiều cán bộ, nhất là cán bộ xã. Trước yêu cầu đó, Tỉnh uỷ đề ra kế hoạch và trực tiếp chỉ đạo gấp rút đào tạo ít nhất mỗi xã 4 cán bộ phụ trách công tác Đảng, chính quyền, quân sự, đoàn thể. Các huyện tổ chức mở lớp đào tạo bồi dưỡng bán bộ cơ sở từ 5 đến 7 ngày. Trong đợt đầu tiên đã đào tạo được 216 cán bộ 4).

Trong thời gian này địch tăng cường, hoạt động chống phá cách mạng, ráo riết dụ dỗ cưỡng ép đồng bào di cư vào miền Nam với luận điệu tuyên truyền “Chúa đã vào Nam”, “Cộng sản sẽ tiêu diệt”…

Từ đầu tháng 9/1954, ở các huyện Kim Sơn, Yên Khánh, Yên Mô số đồng bào theo đạo Thiên chúa bị địch dụ dỗ, cưỡng ép di cư vào Nam. Đặc biệt chỉ  trong 3 ngày (từ ngày 5 đến ngày 7/9/1954), đồng bào theo đạo Thiên chúa ở một số thôn: Trí Điền (Yên Mô) đi hơn 100 gia đình, Tín Thuận (Yên Khánh) đi hơn 10 gia đình, Đạo Cử (Kim Sơn) đi 105 gia đình. Mỗi thôn còn lại 4 - 5 gia đình.

Trước tình hình đó, Tỉnh uỷ mở đợt sinh hoạt chính trị nhằm quán triệt sâu rộng trong Đảng bộ và nhân dân Chỉ thị số 91 của Trung ương Đảng và Chỉ thị số 40 của Liên khu uỷ III về việc tiếp quản vùng mới giải phóng và chống địch dụ dỗ cưỡng ép đồng bào di cư vào Nam.

Ngày 8/9/1954, UBHC tỉnh trưng tập 74 cán bộ thành lập 4 đội công tác về các xã trọng điểm có đông đồng bào theo đạo Thiên chúa để làm nhiệm vụ. Các đội công tác đã kết hợp, phối hợp với cán bộ xã, huyện và bộ đội đóng quân tại địa phương tuyên truyền giải thích phổ biến 8 chính sách của Đảng và Chính phủ cho đồng bào vùng mới giải phóng. Đợt hoạt động này đã gây dựng được 362 cơ sở ở vùng đồng bào theo đạo Thiên chúa, tổ chức 42 cuộc nói chuyện, tuyên truyền vận động, mỗi cuộc có từ 20 - 100 người tham dự, tiếp xúc trực tiếp với 3473 gia đình. Từ ngày 14 đến ngày 21/9/1954 ở thị trấn Phát Diệm có 1492 người trở về. Các cấp uỷ Đảng, chính quyền trong tỉnh tổ chức nhiều cuộc mít tinh thu hút hơn 15.000 lượt người tham dự, phản đối, lên án đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Ngô Đình Diệm vi phạm hiệp định đình chiến, cuỡng ép đồng bào di cư vào Nam. Ở các huyện Nho Quan, Gia Viễn, Gia Khánh tổ chức hội nghị đại diện các tôn giáo, tuyên truyền chính sách tôn giáo của Đảng và chính phủ đồng thời tố cáo lên án âm mưu và tội ác của Mỹ - Diệm chia rẽ khối đoàn kết toàn dân, đoàn kết lương giáo, dụ dỗ cưỡng ép đồng bào theo đạo Thiên chúa vào các trại tập trung ở Phát Diệm 5).

Trong đợt chống địch cưỡng ép đồng bào di cư, Huyện uỷ Gia Viễn chỉ đạo kết hợp tuyên truyền vận động với biện pháp hành chính, kiên quyết trấn áp bọn phản động chống phá cách mạng. Tại Kênh Gà, chính quyền huyện Gia Viễn đã giải tán 180 thuyền chở 1270 người bị địch dụ dỗ cưỡng ép di cư vào Nam, bọn đầu sỏ phản động bị bắt giam.

Ngày 11/11/1954, UBHC tỉnh ra lệnh giải tán các trại tạp trung đồng bào bị cưỡng ép di cư ở thị trấn Phát Diệm (Kim Sơn). Bằng nhiều biện pháp vận động quần chúng trấn áp bọn phản động và kết hợp đấu tranh ngoại giao với Quốc tế giám sát thực hiện Hiệp định Giơ-ne-vơ, ngày 24/11/1954 các trại tập trung đồng bào bị cưỡng ép di cư ở Phát Diệm đã bị giải tán. Đồng bào trở về quê được Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương quan tâm giúp đỡ lương thực, tiền vốn, phương tiện nhằm duy trì ổn định cuộc sống và sản xuất.

Trong thời gian này bọn phản động âm mưu gây bạo loạn ở một số nơi thuộc Kim Sơn, Yên Khánh, Yên Mô đã bị chính quyền cách mạng kịp thời trấn áp, trừng bị, dập tắt.

Tuy nhiên, trong cuộc đấu tranh chống dịch dụ dỗ cưỡng ép, lúc đầu ta còn chủ quan chưa lường hết được âm mưu thâm độc của địch, chưa dự kiến được những diễn biến phức tạp của tình hình, nên có lúc có nơi chưa tập trung lực lượng chủ động đối phó. Thậm chí có vụ, việc còn hữu khuynh khi xử lý sợ vi phạm Hiệp định Giơ-ne-vơ. Bọn phản động đã lợi dụng sai sót của ta, chúng càng lấn tới hoạt động ráo riết hơn.

Đi đôi với công tác tiếp quản vùng mới giải phóng và đấu tranh chống địch cưõng ép di cư, Đảng bộ đã lãnh đạo quân dân toàn tỉnh tích cực thực hiện nhiệm vụ khôi phục kinh tế và bước đầu phát triển văn hoá.

Khi địch rút chạy, số ruộng bỏ hoang hoá ở Ninh Bình có tới hàng vạn mẫu. Phần lớn ruộng hoang hóa đầy cỏ lác, dây thép gai và mìn của địch gài còn lại. Công cụ sản xuất thiếu thốn, có thôn chỉ còn một con trâu và hai ba cái cày bừa. Hoà bình lập lại nhân dân trở về quê gặp nhiều khó khăn phục hồi sản xuất.

Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, Tỉnh uỷ Ninh Bình tổ chức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân học tập chính sách sản xuất nông nghiệp, phát động phong trào đoàn kết giúp đỡ nhau ổn định sinh hoạt và sản xuất. Trước mắt là khai hoang phục hoá, tích cực rà phá bom mìn, dỡ dây thép gai, thu dọn sắt thép gạch đá ở những khu vực trước đây địch đóng đồn bốt, vùng vành đai trắng. Nhân dân giúp đỡ nhau về vốn giống, nhà nước cho nông dân vay vốn mua sắm vật tư, công cụ sản xuất. Tính đến tháng 9/1954 cả tỉnh đã khôi phục được 90% tổng diện tích ruộng đất bị bỏ hoang hoá trong chiến tranh.

Song song với việc khai hoang phục hoá, Tỉnh uỷ phát động “tháng thi đua cấy mùa”. Toàn tỉnh đã huy động hàng chục vạn ngày công đào đắp hàng triệu mét khối đất củng cố đê, cống đảm bảo cấy hết diện tích lúa mùa.

Do hậu quả chiến tranh để lại, tình hình đói ở Ninh Bình diễn ra gay gắt. Đến tháng 10/1954, cả tỉnh có 2259 gia đình bị đói. Ở một số xã miền núi huyện Nho Quan nhiều gia đình bị đói phải đào củ rừng ăn trừ bữa.

Trước tình hình đó, Tỉnh uỷ chủ trương vận động nhân dân đẩy mạnh sản xuất trồng cây rau màu ngắn ngày để cứu đói trước mắt và chống đói lâu dài, trích qũy trợ cấp cho những người bị đói, huy động các cấp các ngành có kế hoạch và tham gia công tác chống đói. Tỉnh đã kịp thời cấp thóc chống đói và giúp nhân dân thóc giống và tiền vốn để sản xuất 6). Sau một thời gian ngắn, được sự chỉ đạo chặt chẽ thường xuyên kiểm tra của các cấp uỷ Đảng và chính quyền đã phát động được phong trào nhân dân tích cực sản xuất nên tình hình đói ở địa phương được dần dần khắc phục, đời sống nhân dân nhanh chóng trở lại ổn định.

Tháng giêng năm 1955, Tỉnh uỷ quyết định mở đợt thi đua hưởng ứng chiến dịch “sản xuất mùa xuân” do Trung ương phát động. Từ ngày 3/1 đến 30/4/1955 cả tỉnh phá hoang được 5448 mẫu đất, cấy 100% diện tích lúa chiêm, trồng được 6264 mẫu ngô, 4656 mẫu khoai lang, 1525 mẫu sắn, 586 mẫu đậu các loại, huy động 543.954 ngày công nạo vét sông Tranh, sông Ghềnh, đắp đê sông Đáy, đê biển Cồn Thoi, với khối lượng đào đắp 3.374.062m3 đất.

Cùng với việc chỉ đạo khai hoang phục hoá, làm thuỷ lợi đẩy mạnh sản xuất, việc xây dựng quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa từng bước được thực hiện.

Từ năm 1955, phong trào tổ đổi công được củng cố, ngày càng phát triển. Tính đến tháng 3 năm 1956, hai huyện Nho Quan, Gia Viễn có phong trào đổi công khá nhất tỉnh. Xã Gia Hưng (Gia Viễn) xây dựng được 83 tổ đổi công, trong đó có 17 tổ đổi công thường xuyên, là xã có phong trào khá nhất tỉnh. Vì vậy Gia Hưng được chọn xây dựng hợp tác xã sản xuất nông nghiệp thí điểm của tỉnh. Sau một thời gian chuẩn bị tốt công tác tư tưởng và tổ chức, cuối tháng 3 năm 1956, hợp tác xã nông nghiệp Đồi Cường và HTX nông nghiệp Hưng Vượng (xã Gia Hưng) được thành lập có 26 hộ nông dân tham gia.

Đầu năm 1955, Tỉnh uỷ đã tổ chức huấn luyện và điều động 1179 cán bộ về các xã hướng dẫn nhân dân học tập chính sách thuế nông nghiệp và vận động nhân dân đóng thuế. Được học tập, nông dân hiểu rõ chính sách và hăng hái đóng thuế nông nghiệp. Tính đến ngày 31/6/1955, Ninh Bình đã nhập kho Nhà nước 13.503 tấn thóc thuế, vượt kế hoạch 503 tấn, hoàn thành trước 20 ngày.

Quan hệ sản xuất mới bước đầu được xây dựng đã tác động tốt đến phát triển sản xuất nông nghiệp. Năm 1955, Ninh Bình giành thắng lợi lớn trong sản xuất nông nghiệp. Năng suất lúa đạt 17,29 tạ/ha, sản lượng đạt 140.283 tấn tăng 46.961 tấn so với năm 1939 7).

Đồng thời với lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, Tỉnh uỷ cũng chú trọng chỉ đạo khôi phục, xây dựng và phát triển sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, hợp tác xã mua bán hợp tác xã tín dụng.

Năm 1955, ngành công nghiệp tập trung vào việc khôi phục máy phát điện nhỏ ở thị xã Ninh Bình và xây dựng một số cơ sở khai thác đá vôi, khôi phục và phát triển một số cơ sở công nghiệp 8) và tiểu thủ công nghiệp đã sản xuất được nhiều công cụ lao động và vật liệu xây dựng.

Năm 1955 giá trị tổng sản lượng công nghiệp quốc doanh đạt 457.855 đồng; công nghiệp tư doanh thủ công đạt 2.429.202 đồng. Bước đầu khôi phục được các nghề truyền thống, giải quyết một phần công ăn việc làm cho số lao động thất nghiệp do chiến tranh để lại. Hàng hoá tiêu dùng và cộng cụ sản xuất được đáp ứng một phần.

Đến tháng 9/1956, 2 huyện Nho Quan, Gia Viễn được chọn làm thí điểm xây dựng 8 HTX tín dụng bao gồm 4707 hộ với số vốn cổ phần do xã viên đóng góp là 10.355.000 đồng. Các HTX tín dụng đã cho tập thể và xã viên vay 70% số vốn hiện có thể phát triển sản xuất.

Tháng 10 năm 1957, các HTX mua bán ở 3 huyện Nho Quan, Gia Khánh và Yên Khánh tổ chức đại hội xã viên bầu ban quản lý nhiệm kỳ mới. Các huyện Gia Viễn, Yên Mô và Kim Sơn chấn chỉnh bổ sung cán bộ vào các ban quản lý HTX mua bán huyện, xã. UBHC tỉnh chỉ đạo ngành thương nghiệp tăng cường mở lớp huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ quản lý và nhân viên các HTX mua bán đồng thời xác định phương hướng mục tiêu của HTX mua bán vừa kinh doanh, vừa phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân, thi đua thực hiện vượt mức kế hoạch doanh thu. Phong trào xây dựng củng cố phát triển HTX mua bán trong tỉnh ngày càng mạnh mẽ, thu được nhiều kết qủa tốt. Huyện Yên Khánh trước đây mức doanh thu 24 triệu đồng, nay tăng lên gấp 2 lần.

Song song với việc lãnh đạo đẩy mạnh sản xuất, phục hồi kinh tế, Đảng bộ chú trọng chỉ đạo các cấp, các ngành tập trung thực hiện nhiệm vụ phát triển văn hoá xã hội. Phong trào học bổ túc văn hoá, thanh toán nạn mù chữ diễn ra sôi nổi mạnh mẽ trong toàn tỉnh. Đến tháng 12/1956, Ninh Bình có 26.278 người đã thanh toán nạn mù chữ, đạt 82,5% kế hoạch. Thị trấn Phát Diệm (Kim Sơn) và xã Liên Sơn (Gia Viễn) dẫn đầu phong trào toàn tỉnh được Chính phủ tặng tưởng huân chương lao động. Năm 1957, cả tỉnh có 30.553 người theo học các lớp bổ túc văn hóa, đã mãn khoá được 17.660 người. Ninh Bình là tỉnh có phong trào diệt dốt khá nhất Liên khu III. Hồ Chủ Tịch đã gửi thư khen đồng bào thị trấn Phát Diệm (Kim Sơn) về thành tích thanh toán nạn mù chữ.

Ngành học phổ thông có bưóc phát triển nhanh. Năm học 1956 - 1957 cả tỉnh đã có 127 trường cấp I và 10 trường cấp II với 34.727 học sinh, có 961 lớp vỡ lòng tăng 2 lần so với năm học 1955 - 1956.

Các hoạt động văn hoá thông tin, thể dục thể thao được các cấp các ngành chăm lo xây dựng ngày càng phát triển. Phong trào thi đua xây dựng nếp sống mới, con người mới thu hút hàng vạn người tham gia. Hầu hết các xã tổ chức được đội văn nghệ. Phong trào văn hoá quần chúng, thể dục thể thao diễn ra sôi nổi, mạnh mẽ làm cho không khí thành thị, nông thôn ngày thêm vui tươi lành mạnh. Những tập tục lạc hậu, mê tín dị đoan, tệ nạn do xã hội cũ để lại dần dần được khắc phục, giảm đi nhiều, có xã đã xoá bỏ hẳn.

Do hậu quả chiến tranh, hàng ngàn người mắc các bệnh đậu mùa, sốt sét, tả lỵ, hoa liễu… Tỉnh uỷ chủ trương nhanh chóng khôi phục và xây dựng mới các cơ sở y tế, thôn xã và tăng cường công tác y tế vệ sinh phòng bệnh, khám chữa bệnh bảo vệ sức khoẻ nhân dân. Tính đến hết tháng 12/1957 đã xây dựng được bệnh viện tỉnh và bệnh xá ở các huyện, thị xã cùng hàng chục trạm hộ sinh xã, hàng trăm tủ thuốc thôn xóm và các đội vệ sinh phòng bệnh. Dụng cụ y tế trang bị cho các cơ sở ngày một được bổ sung thêm, các bệnh dịch được ngăn chặn và dập tắt, sức khoẻ nhân dân đuợc chăm sóc tốt hơn.

Tình hình an ninh và trật tự xã hội có nhiều phức tạp. Bọn phản động đội lốt Thiên chúa luôn tổ chức các vụ gây rối, phá hoại, đẩy mạnh hoạt động chống lại chính quyền cách mạng.

Để chống phá âm mưu và hành động của địch nhằm ổn định tình hình trật tự xã hội ở địa phương, Tỉnh uỷ đã chỉ đạo các cấp uỷ Đảng tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng và ý thức đề cao cảnh giác cho cán bộ và nhân dân. Lực lượng công an kết hợp với dân quân du kích thường xuyên canh gác bảo vệ kho tàng, các cơ sở kinh tế, đường giao thông… Đầu năm 1955 Công an tỉnh cùng vớ dân quân, du kích địa phương đã kịp thời phá tan được âm mưu vũ trang gây rối của bọn phản động ở xã Văn Hải (Kim Sơn) và vụ cưỡng ép dân di cư ở xã Gia Thắng (Gia Viễn) vạch trần mặt bọn cầm đầu trước nhân dân.

Ngày 29/10/1955, Hội nghi Tỉnh uỷ (mở rộng) quán triệt chủ trương củng cố quốc phòng trong tình hình mới và xác định phương hướng xây dựng củng cố lực lượng dân quân du kích thông qua thực hiện thuế nông nghiệp và công tác đấu tranh chính trị để kiện toàn, củng cố dân quân du kích ở cả 3 vùng: vùng đã cải cách ruộng đất, vùng đang cải cách ruộng đất và cùng chuẩn bị cải cách ruộng đất. Dân quân du kích ở 80% số xã trong tỉnh được học tập về  vai trò, nhiệm vụ của lực lượng vũ trang trong giai đoạn cách mạng mới, đã đưa sinh hoạt vào nền nếp, Dân quân du kích được củng cố trở thành lực lượng nòng cốt bảo vệ cuộc cải cách ruộng đất, đi đầu trong sản xuất khôi phục kinh tế hàn gắn vết thương chiến tranh, hăng hái đóng thuế nông nghiệp, tích cực tham gia phong trào chống đói, cứu đói và bảo vệ trị an.

Để đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, căn cứ vào đặc điểm cụ thể ở địa phương, tháng 2/1955,  Tỉnh uỷ đã điều động 120 cán bộ về các xã thuộc 2 huyện Kim Sơn, Yên Khánh làm nhiệm vụ củng cố xây dựng cơ sở. Sau 2 tháng công tác, đã xây dựng được 2303 cơ sở, lựa chọn, đào tạo bồi dưỡng được 210 cán bộ cốt cán. Tính riêng một số xã trọng điểm như Văn Hải, Tô Hiệu, thị trấn Phát Diệm (Kim Sơn) Phúc Nhạc (Yên Khánh) đã xây dựng được 770 cơ sở là người theo đạo Thiên chúa.

Từ tháng 4/1955 Đảng bộ triển khai rộng rãi đợt sinh hoạt chính trị học tập Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá II). Tỉnh uỷ mở nhiều hội nghị cán bộ chủ chốt của tỉnh, các Ty, Ban, Ngành và cán bộ chủ chốt huyện học tập trước, tiếp sau đó triển khai rộng rãi toàn tỉnh.

Trong các đợt học tập nghiên cứu NQ7TW, Đảng bộ tập trung thảo luận kỹ 5 nhiệm vụ cụ thể của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới, Tỉnh uỷ nghiêm túc kiểm điểm những khuyết điểm thiếu sót trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đường lối chính sách của Đảng ở địa phương. Qua học tập nghiên cứu NQ 7TW, trình độ nhận thức của cán bộ, đảng viên được nâng cao.

Quán  triệt đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân của Đảng, chấp hành chủ trương của đảng thực hiện “người cày có ruộng” giải phóng nông dân thoát khỏi chế độ phong kiến, đảng bộ tập trung lãnh đạo tiếp tục tiến hành cuộc cải cách ruộng đất trên địa bàn toàn tỉnh.

Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, ở các vùng tự do, Trung ương Đảng lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức đấu tranh giảm tô, thoái tô và cải cách ruộng đất. Song, nhiệm vụ chiến lược đánh đổ gia cấp địa chủ còn chưa được thực hiện triệt để. Vì vậy, ngay sau khi hoà bình được lập lại ở miền Bắc, Đảng chủ trương phát động quần chúng nông dân lao động tiến hành cải cách ruộng đất, đấu tranh xoá bỏ hoàn toàn giai cấp địa chủ.

Đế ngày 1001/1956, 2 huyện Nho Quan, Gia Viễn kết thúc đợt 4 cải cách ruộng đất. Từ tháng giêng năm 1956, 4 huyện Gia Khánh, Yên Khánh, Yên Mô và Kim Sơn phát động cải cách ruộng đất đợt 5. Các đội cải cách ruộng đất lần lượt về các xã phát động nông dân thực hiện CCRĐ. Ngay từ những ngày đầu, cán bộ đã đi sâu vào các tầng lớp bần cố nông tiến hành “bắt rễ, xâu chuỗi”, “thăm nghèo hỏi khổ” thực hiện 3 cùng (cùng ăn, cùng ở, cùng làm). Cán bộ tích cực tuyên truyền đường lối chính sách CCRĐ của Đảng; chú trọng bồi dưỡng đội ngũ cốt cán ở cơ sở. Hàng vạn nông dân hăng hái tham gia học tập, thảo luận bàn bạc biện pháp đấu tranh thực hiện cải cách ruộng đất.

Hoà cùng với khí thế cách mạng của nông dân, các đoàn thể quần chúng như Mặt trật Tổ quốc, Hội phụ nữ, đoàn thanh niên… đã tổ chức nhiều cuộc thảo luận về mục đích ý nghĩa nội dung CCRĐ và tham gia tuyên truyền cổ động cho công cuộc CCRĐ. Đến cuối năm 1956, Ninh Bình hoàn thành CCRĐ.

Kết quả cả 2 đợt (đợt 4 và 5) CCRĐ chính quyền cách mạng đã tịch thu, trưng thu, trưng mua 29.528 mẫu ruộng của địa chủ, ruộng công điền, ruộng nhà chung và ruộng của các thành phần khác bằng 12% diện tích canh tác của cả tỉnh. Số ruộng đó được đem chia cho 52.429 hộ bần nông, cố nông và trung nông. Nhờ đó, mức bình quân ruộng đất của mỗi nhân khẩu được tăng lên: 

Thành phần

Trước CCRĐ

Sau CCRĐ

Cố nông

Bần nông

Trung nông

5 thước

13 thước

1 sào 8 thước

2 sào 12 thước

2 sào 13 thước

3 sào 4 thước

 

Ngoài ruộng đất, 13.470 hộ nông dân còn được chia 1760 con trâu, bò, 2205 nông cụ 3002 nhà ở cho 7842 hộ không có nhà ở hoặc thiếu nhà ở (chủ yếu chia cho các hộ thuộc thành phần bần, cố nông) 9).

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cuộc cải cách ruộng đất đã kết thúc thắng lợi: đánh đổ toàn bộ giai cấp địa chủ, một đối tượng chủ yếu của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân; xoá bỏ vĩnh viễn quyền phong kiến chiếm hữu ruộng đất; khẩu hiệu “người cày có ruộng” trở thành hiện thực; giải phóng nông dân thoát khỏi ách phong kiến có từ hàng nghìn năm ở nước ta, đưa giai cấp nông dân từ địa vị tá điền, làm thuê, nô lệ lên địa vị làm chủ thực sự cả chính trị, kinh tế, xã hội; khối liên minh công nông được tăng cường làm cơ sở vững chắc của mặt trận dân tộc thống nhất của chính quyền dân chủ nhân dân. Thắng lợi cải cách ruộng đất là căn bản, có tính chất chiến lược.

Tuy nhiên trong khi tiến hành cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, chúng ta có phạm một số sai lầm nghiêm trọng.

Sau khi Trung ương Đảng phát hiện ra những sai lầm trong CCRĐ, tuyệt đối đa số cán bộ, đảng viên và nhân dân vẫn bình tĩnh chờ đợi sửa sai. Nhưng có một số nơi tình hình diễn biến phức tạp. Nội bộ nông dân phát sinh những mâu thuẫn giữa người bị quy sai với những người tham gia đấu tranh, lợi dụng những sai lầm trong CCRĐ một số địa chủ tìm cách đả kích vào Đảng và Chính phủ, giành giật lại rộng đất. Bọn phản động đội lốt Thiên chúa giáo tuyên truyền kích động giáo dân làm đơn đòi lại ruộng cho địa chủ Nhà chung.

Hội nghị lần thứ 10 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá II) đã nghiêm khắc kiểm điểm những sai lầm nghiêm trọng trong thực hiện cải cách ruộng đất và đề ra chủ trương nhiệm vụ biện pháp nhằm kịp thời chấn chỉnh, kiên quyết sửa chữa. Thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đồng bào nông thôn và cán bộ nhân dịp cải cách ruộng đất ở miền Bắc căn bản thành công và Nghị quyết hội nghị lần thứ 10 BCHTW Đảng (khoá II) đều khẳng định: cải cách ruộng đất là thắng lợi to lớn, căn bản của nhiệm vụ phản phong trong chiến lược cách mạng Việt Nam. Nguyên nhân dẫn đến những sai lầm trong cải cách ruộng đất là bỏ qua sự lãnh đạo của Đảng từ tỉnh đến huyện, xã. Trong quá trình tiến hành, đấu tranh, đoàn uỷ không dựa vào cấp uỷ địa phương, do vậy, cấp uỷ địa phương thụ động trước diễn biến của tình hình. Mặt khác, nếu cấp uỷ địa phương nhạy bén kịp thời báo cáo đề nghị Trung ương những ý kiến góp phần chỉ đạo cải cách rộng đất sẽ ít sai lầm. Một nguyên nhân nữa do trình độ nhận thức và năng lực tổ chức thực hiện của cán bộ làm công tác cải cách ruộng đất còn hạn chế.

Nghị định 10 của Ban chấp hành Trung ương Đảng chỉ rõ phương châm, phương pháp, nhiệm vụ cụ thể tiến hành sửa sai trong cải cách ruộng đất: sai đâu sửa đấy, sai ít sửa ít, sai nhiều sửa nhiều, không sai không sửa, kiên quyết sửa chữa sai lầm một cách công minh, đền bù vật chất thoả đáng đúng mức.

Thực hiện chủ trương của Đảng, Tỉnh uỷ đề ra kế hoạch nhiệm vụ và biện pháp cụ thể sửa sai:

Ban sửa sai được thành lập do đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ làm trưởng ban, đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh uỷ. Tổ chức học tập, phổ biến Nghị quyết 10 của BCH Trung ương và thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến toàn thể đảng viên, cán bộ và nhân dân.

Củng cố các ban chi uỷ, phục hồi đảng tịch cho đảng viên bị xử trí sai, kiện toàn bộ máy chính quyền, đoàn thể quần chúng xã, thôn, xóm.

Kiện toàn bộ máy chính quyền tỉnh, huyện, chấp hành đúng chính sách cán bộ.

Tăng cường lãnh đạo công tác tôn giáo.

Giải quyết mọi vụ tranh chấp, ổn định nông thôn

Tuyên bố xoá bỏ thành phần cho một số nông dân lao động bị quy sai.

Hoàn thành công tác thu thuế nông nghiệp năm 1956.

Tăng cường công tác trị an nông thôn.

Xây dựng củng cố lực lượng vũ trang. Thực hiện hoàn thành nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội.

Tháng 11/1956 công tác sửa sai được triển khai rộng khắp các xã trong tỉnh. Khi về xã, đội sửa sai tiến hành tuyên truyền chính sách sửa sai của Đảng trong nhân dân nhằm từng bước tạo sự thống nhất tư tưởng và biện pháp thực hiện.

Sau một tháng tiến hành sửa sai (tháng 11/1956) Ninh Bình đã củng cố tổ chức Đảng và chính quyền ở 54 xã, phục hồi đảng tịch cho 301 đảng viên bị xử trí sai trong số đó có 149 chi uỷ viên, 23 phó bí thư, 37 Chủ tịch, 12 phó Chủ tịch, 10 xã đội trưởng, 8 trưởng công an, 9 bí thư nông hội và 23 cán bộ phụ trách các ngành, đoàn thể ở xã.

Đến tháng 10/1957 ba huyện Gia Khánh, Yên Khánh và Yên Mô đã hoàn thành công tác sửa sai. Những người bị xủ lý oan, sai đã được phục hồi danh dự và trả lại tự do, tài sản thiệt hại được giải quyết, tình hình nông thôn nhanh chóng ổn định trở lại. Ngay sau khi hoàn thành sửa sai (11/1957), Tỉnh uỷ mở đợt học tập chính trị về tình hình và nhiệm vụ cách mạng, các chính sách của nhà nước, nhiệm vụ của đảng viên, nhằm làm cho đảng viên nông thôn nhận thức đầy đủ đúng đắn thắng lợi của cách mạng, nhất là thắng lợi cải cách  ruộng đất.

Đợt học tập này có 4942 đảng viên tham gia, dặt 69,4% tổng số đảng viên nông thôn, tăng 8% so với kế hoạch yêu cầu của  Trung ương đề ra. Hai huyện Yên Khánh, Gia Viễn đạt 73% chi bộ Khánh Nhạc đạt 98%.

Qua học tập trình độ nhận thức của đảng viên được nâng lên, sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của tổ chức Đảng ở nông thôn được tăng cường.

Cải cách rộng đất thắng lợi, nông dân được chia ruộng cấy, trâu cày, vô cùng phấn khởi, biết ơn Đảng Chính phủ và Hồ Chủ tịch đã mang lại cho họ các quyền lợi kinh tế và chính trị. Sau khi hoàn thành cuộc cải cách ruộng đất, nông dân Ninh Bình càng thên hăng hái thi đua tham gia sản xuất phát triển kinh tế, xây dựng phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hoá, xây dựng lực lượng vũ trang củng cố quốc phòng, nghiêm chỉnh thực hiện đầy đủ mọi chủ trương chính sách của Đảng và Chính phủ.

Trên lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, phong trào xây dựng, phát triển tổ đổi công diễn ra sâu rộng trong toàn tỉnh.

Sau hội nghị đổi công toàn quốc, Tỉnh uỷ và UBHC tỉnh Ninh Bình tổ chức nhiều cuộc hội nghị cán bộ chủ chốt tỉnh, huyện, xã và các ban ngành, đoàn thể quần chúng, tổng kết phong trào và bàn kế hoạch củng cố, phát triển tổ đổi công trong tỉnh. Thực hiện cuộc vận động, các huyện đã tổ chức các hội nghị đổi công có 279 đại biểu của 49 xã tham dự. Tỉnh mở 20 lớp tập huấn cho 816 cán bộ tổ trưởng đổi công. Tính đến tháng 12/1957 có 107 xã đã khôi phục được 553 tổ đổi công, phát triển thêm 164 tổ, củng cố 578 tổ, 8294 hộ nông dân tham gia. Mặt khác, nhờ làm tốt công tác thuỷ lợi và áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào trồng trọt và chăn nuôi nên sản xuất nông nghiệp có bước phát triển mới. Năm 1957, cả tỉnh cấy được 76.392 ha lúa (gồm bằng diện tích cấy năm 1939). Năng suất lúa đạt 17,74 tạ/ha, cao hơn năm 1939 là 6,18 tạ/ha. Diện tích trồng bông, lạc đều tăng 1,4 lần so với năm 1939. Năng suất khoai lang 54,74 tạ cao  hơn năm 1939 là 43 tạ/ha. Đặc biệt là diện tích trồng cói đạt 172 ha, năng suất 41,56 tạ/ha, sản lượng hàng năm 715 tấn cói. Chăn nuôi trâu bò được phục hồi. Tổng đàn lợn năm 1957 có 152.865 con, tăng 2 lần so với năm 1955.

Ninh Bình là tỉnh có bờ biển và hệ thống sông ngòi thuận lợi cho việc phát triển nghề đánh cá sông, biển, 8 xã thuộc huyện Kim Sơn có nghề đánh cá biển, 26 xã thuộc các huyện Nho Quan, Gia Viễn ,Gia Khánh, Yên Mô có nghề đánh cá sông. Thấy rõ tiềm năng phát triển ngư nghiệp trong nền kinh tế của tỉnh. Tỉnh uỷ đã chỉ đạo vận động tổ chức ngư vào tổ đổi công để giúp đỡ nhau trong sản xuất đánh bắt cá. Đến tháng 6/1957, đã xây dựng được 27 tổ đổi công đánh cá ở các xã Văn Hải, Quang Trung (Kim Sơn), Gia Trung, Gia Thịnh (Gia Viễn), Ninh Thành (Gia Khánh - nay thuộc thị xã Ninh Bình).

Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, sau 3 năm (1955-1957) nhân dân Ninh Bình bền bỉ lao động, dũng cảm vượt qua nhiều khó khăn trên các lĩnh vực sản xuất, xây dựng giành được những thành tích quan trọng, nhanh chóng khôi phục kinh tế hàn gắn vết thương chiến tranh, bước đầu phát triển văn hoá xã hội, hoàn thành thắng lợi cuộc cải cách ruộng đất, từng bước thiết lập quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa, ổn định và dần dần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Đó là những thuận lợi cơ bản, tạo tiền đề cho phong trào cách mạng tỉnh nhà ngày càng phát triển mạnh mẽ.

II. THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ, VĂN HOÁ VÀ CẢI TẠO XÃ HỘI CHỦ NGHĨA (1958 - 1960)

Ninh Bình là tỉnh nông nghiệp nhưng nền kinh tế còn có nhiều thành phần của nông dân, thợ thủ công, tiểu thương, tiểu chủ. Công thương nghiệp tư bản tư doanh nhỏ bé, xí nghiệp tư nhân không nhiều. Tuy nhiên hình thức bóc lột tư bản chủ nghĩa đối với người lao động còn chưa được xoá bỏ.

Đảng bộ Ninh Bình đã nhận thức được công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa là cuộc đấu tranh gay go, phức tạp “ai thắng ai” giữa con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa. Tỉnh uỷ xác định phương hướng, biện pháp cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp: Đưa nông dân từ làm ăn cá thể tiến tới xây dựng tổ đổi công, tiến lên hợp tác xã bậc thấp, từng bước tiến lên hợp tác xã bậc cao. Trong chỉ đạo tổ chức sản xuất nông nghiệp tỉnh uỷ chủ trương: Hợp tác hoá đi đôi với thuỷ lợi hoá và tổ chức lại lao động. Hợp tác hoá nông nghiệp góp phần đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa tạo điều kiện, củng cố và phát triển hợp tác hoá nông nghiệp.

Đối với thợ thủ công, đưa họ vào các HTX tiểu thủ công nghiệp, cung cấp nguyên vật liệu, công cụ, thiết bị, giúp từng bước cải tiến kỹ thuật tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản xuất góp phần thực hiện hoàn thành kế hoạch Nhà nước.

Đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh, áp dụng phương pháp cải tạo hòa bình. Về kinh tế, nhà nước không tịch thu tư liệu sản xuất của tư sản dân tộc mà dùng chính sách chuộc lại. Về chính trị, nhà nước vẫn coi tư sản dân tộc là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Đối với những người buôn bán nhỏ thì giáo dục, giúp đỡ họ từng bước đi vào con đường làm ăn tập thể, chuyển phần lớn những người trong số họ sang sản xuất.

Từ chủ trương, phương hướng, biện pháp đó, các cấp uỷ Đảng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo chính quyền, các ngành, các đoàn thể quần chúng tổ chức thực hiện nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa ở địa phương.

Tháng 6/1958, Tỉnh uỷ mở hội nghị sơ kết phong trào xây dựng tổ đổi công. Đến tháng 6/1958 cả tỉnh đã xây dựng được 4791 tổ đổi công với 34.544 hộ nông dân tham gia, bằng 38,9% tổng số hộ nông dân trong tỉnh. Huyện Gia Viễn xây dựng được 1180 tổ với 47,7% số hộ nông dân, huyện Yên Mô xây dựng được 1006 tổ với 43% số hộ nông dân, là 2 đơn vị dẫn đầu phong trào trong tỉnh.

Trong lãnh đạo cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, đảng bộ chú trọng chỉ đạo phong trào ở vùng đồng bào theo đạo Thiên chúa. Tỉnh uỷ chủ trương đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng, đặc biệt là đối với đồng bào theo đạo Thiên chúa. Thực hiện chủ trương đó, 300 đảng viên, cán bộ cơ sở là người theo đạo Thiên chúa được bồi dưỡng giác ngộ đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ về phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới. Nhờ vậy, đến tháng 10/1958, đã có 21/43% số gia đình đồng bào theo đạo Thiên chúa trong tỉnh tham gia tổ đổi công.

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng cơ sở, Tỉnh uỷ chỉ đạo mở nhiều lớp huấn luyện lý luận chính trị và nghiệp vụ quản lý kinh tế - xã hội cho đảng viên nông thôn. Tháng 8/1958, Tỉnh uỷ mở lớp huấn luyện thí điểm tại Ninh Sơn (Gia Khánh). Tiếp sau, các huyện đã mở được 22 lớp cho 1460 đảng viên. Huyện Gia Khánh, Gia Viễn, là 2 đơn vị khá nhất tỉnh. Nhờ vậy, phong trào xây dựng và phát triển HTX nông nghiệp ngày càng tiến bộ mạnh mẽ, vững chắc hơn trước.

Sau đợt làm thí điểm ở một số xã, phong trào xây dựng HTX nông nghiệp được mở rộng trong toàn tỉnh. Kết quả về xây dựng HTX, tổ chức lại sản xuất, phân công lại lao động, đưa quy mô làm ăn tập thể từ tổ đổi công lên HTX, đã góp phần làm tăng năng suất lao động, nâng cao tổng sản lượng sản xuất nông nghiệp.

Đến tháng 12 năm 1960, Ninh Bình căn bản hoàn thành xây dựng HTX nông nghiệp; có 78.749 hộ nông dân bằng 88% tổng số hộ nông dân trong tỉnh tự nguyện gia nhập 1110 HTX nông nghiệp với hơn 80% diện tích canh tác. Vùng đồng bào theo đạo  Thiên chúa đã có 5,9% số hộ giáo dân vào HTX. Vùng núi đã có 31% số hộ nông dân vào HTX.

Song song với việc lãnh đạo xây dựng HTX nông nghiệp, Tỉnh uỷ tăng cường chỉ đạo củng cố xây dựng phát triển các HTX mua bán và tín dụng.

Nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu phục vụ sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân, mạng lưới HTX tín dụng thu hút 40.774 xã viên, tăng gần 2000 xã viên so với năm 1957. Qũy tín dụng đã xuất 96 triệu đồng cho HTX nông nghiệp, tổ đổi công và nông dân vay mua thêm 1598 con trâu bò và các công vụ sản xuất.

Thực hiện nhiệm vụ xã hội phát triển mậu dịch quốc doanh và HTX mua bán, cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với ngành thương nghiệp. Ninh Bình đã tiến hành cải tạo thương nghiệp tư nhân, đưa 54 hộ về sản xuất. Đến tháng 8/1958 cả tỉnh xã hội được 123 HTX mau bán (trong tổng số 125) gồm 38.513 xã viên với 41.504 cổ phần, góp 1.322.600 đồng tiền vốn. Hợp tác xã mua bán đã góp phần phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân.

Thương nghiệp quốc doanh phát triển mạnh, nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống thương nghiệp. Năm 1958, Ninh Bình phát triển thêm 16 cửa hàng mậu dịch (năm 1955 có 5 cửa hàng ) đã làm tốt chức năng lưu thông phân phối góp phần ổn định thị trường, giá cả, phục vụ phát triển sản xuất và cải thiện đời sống nhân dân.

Đối với công nghiệp và thủ công nghiệp, nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VII (tháng 1/1959) nêu rõ phương hướng nhiệm vụ cải tạo và xây dựng  công nghiệp ở địa phương: tích cực phát triển thành phần kinh tế công nghiệp quốc doanh, chú trọng xây dựng công nghiệp địa phương và tiểu thủ công nghiệp phục vụ sản xuất nông nghiệp.

Thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VII tỉnh chỉ đạo tập trung vào công cuộc cải tạo và xây dựng ngành công nghiệp. Thợ thủ công được đưa vào làm ăn tập thể ở các HTX tiểu thủ công, đồng thời cải tạo thành phần công thương nghiệp tư bản tư doanh.

Ở Ninh Bình có 1967 người làm nghề thủ công ở thị xã, thị trấn và 16.472 người làm nghề thủ công ở nông thôn. Đến năm 1960 đã đưa 90% tổng số người làm nghề thủ công bổ sung hàng trăm thợ thủ công vào các cơ sở công nghiệp quốc doanh. Sản xuất thủ công của các HTX phát triển nhanh, giá trị tổng sản lượng tăng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế ở địa phương ổn định đời sống nhân dân. Bằng phương pháp ổn hoà bình cải tạo, 16 hộ tư sản công thương nghiệp được đưa vào hình thức công tư hợp doanh và HTX như xí nghiệp in, xí nghiệp vận tải (ô tô, ca nô) 3731 người buôn bán được tổ chức vào các HTX 1145 người buôn bán nhỏ khác được chuyển sang sản xuất.

Đồng thời  với xây dựng, củng cố quan hệ sản xuất mới và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế, Đảng bộ đã tăng cường chỉ đạo các cấp, các ngành tập trung đẩy mạnh phát triển sản xuất, nhất là sản xuất nông nghiệp.

Đầu năm 1958, phong trào “thủy lợi hoá” được đông đảo nhân dân trong tỉnh hưởng ứng tham gia. Sau 4 tháng lao động, nhân dân cả tỉnh tham gia 15.390 ngày công, đào 30 con ngòi mới, nạo vét 60 ngòi cũ với tổng chiều dài 48.090 mét, chống hạn cho 7776 mẫu lúa và hoa màu, sử dụng 52.601 ngày công đắp bờ vùng, bờ thửa để giữ nước khi hạn và ngăn nước khi úng lụt và một vạn ngày công đắp, tu sửa đê sông. Hệ thống tiểu thuỷ nông được xây dựng đã đáp ứng tưới tiêu kịp thời vụ chống hạn, úng cho hàng chục vạn mẫu lúa và hoa màu, góp phần làm cho vụ mùa năm 1958 giành thắng lợi. Cả tỉnh cấy được 35.840 ha lúa mùa, năng suất đạt 26,19 tạ/ha, sản lượng 35.840ha lúa mùa, năng suất đạt 26,19tạ/ha, sản lượng 93.667 tấn, vượt 22.715 tấn so với chỉ tiêu kế hoạch. Trong vụ mùa này, huyện Gia Khánh cấy vượt 48% kế hoạch, huyện Gia Viễn cấy vượt 42% kế hoạch, là 2 đơn vị khá nhất tỉnh.

Cuối tháng 4 đầu tháng 5 - 1958 Ninh Bình mở đại hội chiến sĩ thi đua nông nghiệp toàn tỉnh, có 115 đại biểu về dự, trong đó có 43 chiến sĩ thi đua nông nghiệp và 21 đại biểu của các tổ đổi công xuất sắc. Đại hội tổng kết kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp, kinh nghiệm xây dựng tổ đổi công, HTX nông nghiệp. Đại hội thống nhất đánh giá: phong trào thi đua sản xuất nông nghiệp xuất hiện nhiều điển hình tiên tiến xuất sắc có tác dụng thúc đẩy sản xuất phát triển nhanh, mạnh.

Đại hội bầu đoàn đại biểu chiến sĩ thi đua của tỉnh đi dự Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn quốc gồm 4 chiến sĩ thi đua nông nghiệp, đại biểu của các đơn vị xuất sắc: HTX nông nghiệp Hưng Vượng (Gia Hưng, Gia Viễn), tổ đổi công ở xã Yên Từ (Yên Mô), tổ đổi công xã Gia Lập (Gia Viễn).

Sau đại hội, phong trào thi đua đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp được hàng vạn nông dân hăng hái tham gia sôi nổi, rộng khắp cả tỉnh.

Chấp hành Chỉ thị của Trung ương về việc tổ chức Đại hội Đảng bộ các cấp, Đảng bộ tỉnh đã tiến hành đại hội đại biểu lần thứ VII, từ ngày 28-1 đến ngày 31-1-1959 tại thị xã Ninh Bình, có 106 đại biểu chính thức. Đại hội đã nghe báo cáo tổng kết nhiệm kỳ (khoá VI) của Tỉnh uỷ, đánh giá những thành tích của quân và dân địa phương đạt được trong năm 1958 trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội là to lớn, có bước tiến bộ, đặc biệt là công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, thiết lập quan hệ sản xuất mới và phát triển văn hoá, giành được thắng lợi bước đầu rất quan trọng. Đại hội đã nhất trí thông qua chính trị trong năm 1959: Tiếp tục đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế, văn hoá, nâng cao đời sống nhân dân; tăng cường công tác quốc phòng an ninh… Đại hội đã bầu ban chấp hành Đảng bộ tỉnh (khoá VII) gồm 25 Uỷ viên chính thức và 6 Uỷ viên dự khuyết. Đồng chí Phan Điền được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ.

Vụ chiêm năm 1959, diện tích lúa và hoa màu trong tỉnh bị hạn lên tới hàng trục ngàn mẫu. Đảng bộ và nhân dân đã tập trung sức cao nhất cho công tác chốn hạn.

Ngày 15/3/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh về kiểm tra công tác chống hạn ở Ninh Bình. Người về xã Khánh Cư (Yên Khánh) đến tận cánh đồng nhằm động viên nhân dân đào mương dẫn nước; tới cánh đồng chân núi Cánh Diều thuộc xã Ninh Sơn (Gia Khánh) thăm và động viên nhân dân đang tát nước chống hạn. Sau khi đi kiểm tra thực tế và nghe các đồng chí lãnh đạo tỉnh báo cáo tình hình phong trào cách mạng ở địa phương, Bác đã gặp gỡ và nói chuyện với hơn 2000 cán bộ chủ chốt xã, huyện, ban, ngành tỉnh tại thị xã Ninh Bình. Người biểu dương nhân dân và cán bộ đã đạt được nhiều thành tích sản xuất và cố gắng chống hạn giải quyết được 4 vạn mẫu lúa khỏi bị hạn. Người ân cần căn dặn: Tỉnh nhà rất anh hùng và lập được nhiều chiến công trong kháng chiến. Trước ta kháng chiến, bây giờ ta tiếp tục một cuộc kháng chiến khác. Trước ta chống đế quốc để làm gì? Để độc lập tự do. Nay độc lập tự do rồi, ta chống đế quốc mới là thiên tai: bão, lụt, hạn, sâu…

Thực hiện lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 20/3/1959 Ban thường vụ Tỉnh uỷ ra Chỉ thị số 04-CT về đẩy mạnh công tác sản xuất vụ chiêm xuân 1959. Chỉ thị nêu rõ: Không được để lúa bị hạn, bình quân mỗi ha lúa bón 11 tấn phân; phấn đấu trồng vượt diện tích cây màu và cây công nghiệp, đảm bảo đúng kế hoạch và chỉ tiêu chăn nuôi của tỉnh.

Được Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm, kiểm tra phong trào và huấn thị, động viên, Đảng bộ và nhân dân Ninh Bình càng phấn khởi hăng hái thi đua ra sức phấn đấu thực hiện lời dạy của Người. Với quyết tâm và nỗ lực cao của nhân dân và lực lượng vũ trang toàn tỉnh, chỉ trong một thời gian ngắn đã hoàn thành hàng trăm công trình  thuỷ lợi lớn nhỏ: xây các cống mới, tu sửa nạo vét kênh mương, đắp đập, đắp bờ vùng, bờ thửa giữ nước…với sự tham gia hàng chục vạn ngày công đào đắp được hàng vạn mét khối đất.

Đầu năm 1959, tỉnh quyết định và chỉ đạo phát động đắp đê biển Cồn Thoi (Kim Sơn). Hàng nghìn nông dân, bộ đội, thanh niên là lực lượng xung kích. Cuối năm 1959 công trình đê biển Cồn Thoi hoàn thành, biến 720 ha bãi biển hoang vu toàn cây xú vẹt thành ruộng trồng cói, cây lúa. Nông trường Bình Minh được thành lập.

Ngày 18/10/1959, Hội nghị sản xuất Đông Xuân toàn tỉnh phấn khởi được đón Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm và nói chuyện với các đại biểu. Sau khi biểu dương nhân dân và cán bộ Ninh Bình đã đạt được nhiều thành tích trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế - văn hoá, nâng cao đời sống nhân dân, chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở mọi người phải chú ý đẩy mạnh hơn nữa trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất.

Nước phải đủ, phân phải nhiều

Cày sâu, giống tốt, cấy đều dảnh hơn

Trừ sâu diệt chuột chớ quên

Cải tiến nông cụ là nền nhà nông

Ruộng nương quản lý gia công

Tám điều đầy đủ thóc bông đầy bồ.

Hồ Chủ tịch ân cần căn dặn cán bộ và đồng bào đoàn kết nhất trí, hăng hái thi đua cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Người nhắc nhở động viên đảng viên, cán bộ phải gương mẫu, xung phong đi đầu trong mọi công tác.

Thực hiện lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tỉnh uỷ Ninh Bình phát động phong trào thi đua nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ sản xuất Đông Xuân 1959 - 1960; đẩy mạnh phát triển nông nghiệp toàn diện, chú trọng sản xuất lương thực cả thóc và màu, tạo ra lượng dự trữ, đẩy mạnh trồng cây công nghiệp đặc biệt là cây cói, cà phê, lạc, thuốc lá, trồng cây ở đồng bằng và gây rừng; đẩy mạnh chăn nuôi trâu bò cày kéo, lợn, củng cố và phát triển tổ đổi công HTX nông nghiệp, từng bước xây dựng củng cố quan hệ sản xuất mới ở nông thôn.

Công trình đào sông Bến Đang (Nho Quan) khởi công mở đầu phong trào thi đua sản xuất Đông Xuân 1959 - 1960. Hơn một vạn thanh niên, dân quân tham gia công trường đào sông Bến Đang với khí thế bừng bừng cách mạng. Sau 2 tháng lao động hăng say, dũng cảm vượt mọi khó khăn gian khổ (phải đục phá 4 vạn m3 ngầm dưới lòng sông); sông Bến Đang dài 3000 mét (từ Đồi Khoai, Quỳnh Lưu đến Bến Đang cũ), rộng 10 mét, sâu 8 mét, hoàn thành ngày 6-5-1960, phục vụ tưới tiêu 5000ha của 2 huyện Nho Quan, Gia Viễn. Cùng trong thời gian này, tháng 2-1960, nhân dân huyện Nho Quan hoàn thành công trình thuỷ lợi đập Ngựa Lồng. Công trình này khởi công từ tháng 9 - 1959, đã phải sử dụng gần 4000m3 đá để chắn ngang một dòng suối, đồng thời đào 1 con mương dài 40km và làm 2 máng, 1 triệu m3nước đảm bảo phục vụ cho hơn 1000ha đất canh tác thuộc xã Lạc Hồng, Lạc Long, Lạc Vân (Nho Quan) cấy được 2 vụ lúa.

Mùa xuân năm 1960, hưởng ứng phong trào “Tết trồng cây” do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động, hàng chục cán bộ, bội đội và nhân dân Ninh Bình hăng hái tham gia. Năm 1960 cả tỉnh trồng được hơn 1 triệu cây lấy gỗ, cây ăn quả dọc ven các đường giao thông trong tỉnh. Ngoài ra phong trào trồng cây gây rừng cũng phát triển mạnh ở Nho Quan nhằm phủ xanh đồi trọc, chống xói mòn, ở Kim Sơn trồng cây ngăn nước mặn.

Trên lĩnh vực sản xuất công nghiệp, nhà máy điện Ninh Bình khởi công xây dựng ngày 5-7-1958 đến đầu năm 1959 hoàn thành với 2 máy phát điện công suất 33KW/giờ. Sau 6 tháng thi đua lao động sôi nổi, phát huy nhiều sáng kiến đã tiết kiệm làm lợi cho công quỹ 12 triệu đồng. Thời gian thi công xây dựng nhà máy hoàn thành trước 15 ngày so với kế hoạch. Nhà máy điện đi vào hoạt động đáp ứng được một phần yêu cầu phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân ở khu vực thị xã Ninh Bình.

Từ cuối năm 1959 sang năm 1960, Tỉnh uỷ chỉ đạo tổng kết kinh nghiệm và phát triển ra diện rộng cuộc vận động “Cải tiến chế độ quản lý xí nghiệp quốc doanh”. Nông trường Đồng Giao 10), xí nghiệp đá Hệ Dưỡng, nhà máy xay Ninh Bình và ty bưu điện là những đơn vị có nhiều chuyển biến tiến bộ sau cuộc vận động. Đông đảo công nhân hăng hái thi đua lao động sản xuất và đề xuất được nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật, lề lối làm việc, thu được kết quả sản xuất, công tác tốt. Năng xuất lao động, sản lượng tăng lên, chất lượng sản phẩm cao hơn, đời sống công nhân được ổn định, có phần cải thiện.

Ngày 12 - 9 - 1960, cán bộ và công nhân nông trường Đồng Giao vinh dự được đón Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm. Người biểu dương thành tích lao động sản xuất của cán bộ công nhân nông trường trong những năm qua, đồng thời Người căn dặn cán bộ, công nhân tăng cường đoàn kết, ra sức đẩy mạnh sản xuất, quyết tâm phấn đấu xây dựng nông trường lớn mạnh về mọi mặt.

Thực hiện lời dạy của Người, cán bộ công nhân nông trường càng hăng hái thi đua lao động sản xuất, tăng diện tích trồng trọt, tăng số lượng đàn trâu bò…. xây dựng nông trường ngày càng phát triển.

Đồng thời với việc lãnh đạo chỉ đạo tổ chức công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, Đảng bộ tỉnh quan tâm lãnh đạo phát triển sự nghiệp giáo dục.

Tháng giêng năm 1958, Ninh Bình mở chiến dịch “Xuân Hè diệt dốt” nhằm thực hiện thắng lợi cuộc vận động lớn “thanh toán nạn mù chữ” do Trung ương đề ra.

Nhân dân hăng hái sôi nổi hưởng ứng với nhiều hình thức phong phú như “Hội nghị Diên Hồng diệt dốt”, phong trào thi đua “Người học siêng năng, người dạy nhiệt tình” …. đã cổ vũ, động viên hàng chục vạn người tham gia.

Trong chiến dịch “Xuân Hè diệt dốt” có 27.417 người ở độ tuổi đã đến lớp, đạt 93% kế hoạch. Kết thúc chiến dịch có 10.722 người mãn khoá, tăng gấp 2 lần so với năm 1957. Sáu xã: Gia Ninh, Gia Phú, Gia Phong, Gia Lâm (Gia Viễn) Lạc Long, Sơn Lai (Nho Quan) và đội công nhân đường sắt Đồng Giao đã thanh toán xong nạn mù chữ cho tất cả những người trong diện. Xã Gia Minh và đội công nhân đường sắt Đồng Giao là 2 đơn vị hoàn thành sớm nhất.

Sau thắng lợi của chiến dịch “Xuân Hè diệt dốt”, cuộc vận động “xoá nạn mù chữ” ở Ninh Bình đã dấy lên thành phong trào mạnh mẽ rộng khắp trong tỉnh. Đến ngày 19 - 8 1958, huyện Gia Viễn và 117 chi đoàn thanh niên trong tỉnh hoàn thành công tác diệt dốt 100%. Huyện Nho Quan cũng đã căn bản thanh toán xong nạn mù chữ. Tính đến ngày 2 - 9 - 1958, toàn tỉnh đã thanh toán nạn mù chữ cho 29.193 người ở độ tuổi từ 12 đến 50 tuổi đạt tỷ lệ 97%.

Bộ Giáo dục và Ban chỉ đạo thanh toán nạn mù chữ Trung ương đánh giá phong trào thanh toán nạn mù chữ của Ninh Bình phát triển khá. Nhân dân và cán bộ Ninh Bình được nhà nước tặng thưởng Huân chương lao động hạng nhất, 26 xã được tặng thưởng Huân chương lao động các hạng, 28 xã được tặng Bằng khen. Đoàn thanh niên là đơn vị lá cờ đầu phong trào thanh niên thanh toán nạn mù chữ toàn miền Bắc.

Tháng giêng năm 1960, Tỉnh uỷ mở hội nghị bàn nhiệm vụ công tác ngành giáo dục. Hội nghị đã học tập và thảo luận Nghị quyết số 93 của Trung ương Đảng về việc tăng cường lãnh đạo công tác bổ túc văn hoá cho toàn thể cán bộ nhân dân trong tỉnh, Tỉnh uỷ xác định công tác bổ túc văn hoá hiện nay là nhiệm vụ hàng đầu rất cấp bách và quan trọng của sự nghiệp giáo dục. Hội nghị nhấn mạnh nhiệm vụ công tác giáo dục năm 1960: Về bổ túc văn hoá phải ra sức đẩy mạnh phong trào học bổ túc văn hoá hơn nữa, đặc biệt chú trọng đến cán bộ, đảng viên, công nhân, viên chức. Mục tiêu không còn người mù chữ ở nông thôn và thanh niên phải có trình độ văn hoá lớp 12 trở lên. Về giáo dục phổ thông: Vận động nhân dân đóng góp xây dựng trường lớp, đóng góp học phí thực hiện phổ cập cấp I, phát triển cấp II, cấp III và chú trọng công tác giáo dục ở miền núi và vùng có đồng bào theo đạo Thiên chúa trong năm học 1960 - 1961.

Từ sau hội nghị này, ngành giáo dục có bước phát triển mới. Hàng vạn công nhân viên chức, cán bộ đảng viên, thanh niên, nông dân hăng hái tham gia phong trào học bổ túc văn hoá. Nhân dân toàn tỉnh đã đóng góp hàng chục vạn đồng, tham gia hàng chục nghìn ngày công xây dựng trường lớp ở hầu hết các xã, đủ chỗ cho gần 50 nghìn học sinh phổ thông cấp 1, cấp 2 học tập. Trong thời gian này, tỉnh Ninh Bình đã xây dựng được một trường cấp 3 tại thôn Bích Đào (Ninh Sơn, Gia Khánh). Năm 1959, trường sư phạm cấp I được xây dựng. Năm 1960, trường sư phạm cấp II được xây dựng.

Công tác y tế được các cấp uỷ Đảng và chính quyền quan tâm chỉ đạo xây dựng và phát triển. Đến năm 1960 tất cả các xã trong tỉnh đều đã xây dựng được nhà hộ sinh, trạm y tế xã, các huyện xây dựng bệnh viện hoặc bệnh xá, bệnh viện tỉnh được tăng cường đầu tư trang thiết bị y tế và cơ sở vật chất phục vụ khám chữa bệnh, sức khoẻ của nhân dân được chăm sóc đảm bảo tốt hơn.

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 12 BCHTW Đảng (tháng 3 - 1957) về “Tích cực xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng”, Đảng bộ Ninh Bình chỉ đạo triển khai xây dựng lực lượng hậu bị, củng cố dân quân, tự vệ. Đến tháng 12 - 1959, cả tỉnh có 29.379 dân quân, tự vệ, 100% quân số được huấn luyện kỹ - chiến thuật, 679 cán bộ xã đội được huấn luyện sử dụng vũ khí: pháo, hoá học, công binh …. và cách thức tổ chức chỉ huy chiến đấu. Tỉnh đội đã xây dựng, huấn luyện lực lượng vũ trang sẵn sàng đánh thắng địch trong mọi tình huống. Cũng trong năm 1959 - năm đầu tiên thực hiện luật nghĩa vụ quân sự, Ninh Bình hoàn thành tuyển quân 1.724 người nhập ngũ, vượt 103 người so với chỉ tiêu trên giao.

Phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” do Tỉnh uỷ phát động được đông đảo nhân dân trong tỉnh hăng hái tham gia. Tỉnh uỷ chỉ đạo làm thí điểm chống bọn tội phạm ở xã Khánh Mậu (Yên Khánh), sau đó mở rộng ra nhiều địa bàn trong tỉnh. Được các cấp uỷ Đảng và chính quyền quan tâm chỉ đạo tổ chức thực hiện tốt nên đã bảo đảm giữ vững được an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Đồng thời với việc lãnh đạo chỉ đạo khôi phục kinh tế văn hoá, Đảng bộ đặc biệt chú trọng công tác xây dựng Đảng.

Thực hiện chủ trương của Liên khu uỷ III về việc củng cố chi bộ, tăng cường sự lãnh đạo của chi bộ Đảng ở nông thôn, từ tháng giêng đến tháng 6 - 1958, Tỉnh uỷ chỉ đạo cơ sở tiến hành kiện toàn củng cố 65 Ban chi uỷ xã, đưa 53 chi uỷ viên yếu kém ra khỏi cấp uỷ, bổ sung 57 đảng viên vào cấp uỷ, phân công lại 11 ban chi uỷ.

Cùng trong thời gian này, Tỉnh uỷ chỉ đạo mở hai lớp huấn luyện cho 203 chi uỷ viên. Các huyện mở nhiều lớp bồi dưỡng lý luận chính trị cho 240 đảng viên, trong đó có 15 đảng viên là người theo đạo Thiên chúa. Qua học tập chính trị đã giải quyết tư tưởng cho đảng viên về vấn đề “ai thắng ai giữa con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa”. Nhờ vậy phong trào cách mạng trong tỉnh có những chuyển biến tốt. Các chi bộ Yên Từ (Yên Mô), Khánh Tiên (Yên Khánh) có 100% đảng viên và tổ đổi công. Đảng bộ huyện Yên Khánh có 67% đảng viên tham gia học tập và đã làm tốt công tác thuế nông nghiệp, là đơn vị khá của tỉnh.

Sau khi tổ chức đảng được củng cố, cấp uỷ được kiện toàn, nhân tố tích cực trong các chi bộ xuất hiện ngày càng nhiều. Điển hình hai chi bộ Trưng Nhị (Kim Sơn), Gia Phong (Gia Viễn) trước đây yếu kém nay đã trở thành chi bộ khá. Trong số 125 chi bộ ở nông thôn đã phân loại, có 29 chi bộ khá, 58 chi bộ trung bình, còn 38 chi bộ kém. Trong tổng số 812 chi uỷ viên của 125 chi bộ nông thôn đã phân loại, có 364 chi uỷ viên khá, 284 chi uỷ viên trung bình, còn 164 đồng chí loại kém.

Trong củng cố tổ chức Đảng, thực hiện Chỉ thị số 48 của Trung ương, Tỉnh uỷ Ninh Bình đã tổ chức tiến hành xác minh phục hồi sinh hoạt cho 41 đảng viên bị đứt liên lạc hoặc bị địch bắt trước đây nhưng vẫn giữ vững đảm bảo tiêu chuẩn người đảng viên cộng sản.

Chấp hành Chỉ thị của Trung ương Đảng về việc mở đợt sinh hoạt chính trị học tập 2 nhiệm vụ chiến lược của cách mạng trong giai đoạn mới. Từ tháng 2 đến tháng 5 - 1958, Đảng bộ Ninh Bình đã tổ chức cho đảng viên toàn tỉnh học tập nghiên cứu quán triệt tình hình và nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới.

Từ tháng 2 đến tháng 5-1958 Tỉnh ủy chỉ đạo tổ chức 2 đợt học tập cho 9284 đảng viên, cán bộ trong tỉnh. Các cấp ủy chỉ đạo học tập có liên hệ với thực tiễn phong trào ở địa phương, nên ngay trong thời gian học tập khí thế thi đua sản xuất và phong trào xây dựng tổ đổi công, xây dựng HTX có bước tiến bộ phát triển mạnh mẽ. Tính đến tháng 5-1958, xay dựng thêm được 2175 tổ đổi công, đưa tổng số tổ đổi công của cả tỉnh lên 4300 tổ, trong đó có 40% số đảng viên tham gia và xây dựng thêm 2 HTX nông nghiệp ở xã Khánh Cư (Yên Khánh) và xã Yên Từ (Yên Mô) 11).

Tháng 3 năm 1958, Tỉnh ủy mở hội nghị tôn giáo vận để tiến hành công tác phục hồi, củng cố cơ sở Đảng và đoàn thể quần chúng ở vùng có đồng bào theo đạo Thiên chúa.

Đến tháng 12 năm 1958 đã phục hồi đảng tịch và chức vụ cho 111 cán bộ và đảng viên. Các ngành, giới mở nhiều lớp bồi dưỡng chính trị ngắn ngày cho cán bộ cơ sở. Hội phụ nữ là tổ chức quần chúng làm tốt công tác này. Các ban cán sự phụ nữ xã được kiện toàn. Sau cải cách ruộng đất có 89 cán sự, nay chỉ tính 5 huyện đã có tới 422 cán sự. Tỉnh mở lớp huấn luyện chính trị cho 334 cán bộ trung kiên ngoài Đảng. Trước cải cách ruộng đất cả tỉnh có 72 đảng viên là người theo đạo Thiên chúa, đến năm 1958 có 155 đảng viên. Các xã vùng Thiên chúa giáo đã có chi bộ Đảng, đảng viên là người theo đạo Thiên chúa.

Nhằm thực hiện chỉ thị của Trung ương về việc nâng cao chất lượng đảng viên là tổ chức Đảng ở nông thôn, quý IV-1959, Tỉnh uỷ đã tổ chức đợt chỉnh huấn đảng viên nông thôn, 100% tổ chức cơ sở Đảng và hơn 90% đảng viên nông thôn than gia. Trong đợt chỉnh huấn này, đồng chí Trường Chinh -  uỷ viên Bộ chính trị Trung ương Đảng về thăm và làm việc tại Ninh Bình. Sau khi nghe các đồng chí lãnh đạo tỉnh báo cáo kế hoạch và tình hình triển khai tổ chức chỉnh huấn trong tỉnh, đồng chí Trường Chinh đã về dự buổi sinh hoạt chỉnh huấn của chi bộ xã Ninh Mỹ (Gia Khánh). Đồng chí phát biểu nhấn mạnh những nội dung, yêu cầu cụ thể nhằm đưa cuộc chỉnh huấn đảng viên đạt kết quả tốt nhất.

Qua đợt chỉnh huấn, đảng viên nông thôn đã nhận thức sâu sắc vị trí vai trò tiền phong gương mẫu của người đảng viên cộng sản, hiểu rõ chức năng nhiệm vụ của tổ chức cơ sở Đảng. Từ kết quả nhận thức và chuyển biến trong hành động, phong trào cách mạng ở địa phương thu được nhiều thắng lợi trong sản xuất, học tập, công tác. Đợt phát triển đảng viên “6/1/1960” toàn Đảng bộ đã kết nạp 1606 đảng viên mới. Hầu hết các chi bộ Đảng ở nông thôn được củng cố kiện toàn, ra sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng được nâng lên hơn trước.

Thực hiện Chỉ thị của Trung ương về việc tổ chức Đại hội Đảng các cấp chuẩn bị cho Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, từ ngày 25/6/1960 đến ngày 2/7/1960, Ninh Bình họp đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh lần thứ VIII (vòng I) tại thị xã Ninh Bình có 208 đại biểu (trong đó có 187 đại biểu chính thức).

Đại hội thống nhất đánh giá những thành tích đã đạt được trong 3 năm cải tạo xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế, văn hoá (1958 - 1960) là căn bản, rất quan trọng, là tiền đề cho việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội những năm sau.

Đại hội đã thảo luận 8 bài học của Trung ương nêu trong báo cáo chính trị (đề cương) và đường lối cách mạng trong giai đoạn mới.

Đại hội đã đề ra nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương năm 1961: Sau khi căn bản hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa, chuyển sang xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ trọng tâm là: Ra sức phát triển nông nghiệp một cách toàn diện, đồng thời phát triển công nghiệp địa phương phục vụ nông nghiệp, đẩy mạnh hoạt động của các ngành kinh tế, văn hoá; cải thiện đời sống nhân dân thêm một bước; tiếp tục hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng.

Đại hội đề ra những phương châm, nhiệm vụ cụ thể và những biện pháp lớn để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu kinh tế - xã hội của địa phương mà Đại hội đã thông qua.

Đại hội bầu Đoàn đại biểu của Đảng bộ tỉnh đi dự đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III.

Được tin Mỹ - Diệm giết hại hơn 1000 đồn bào miền Nam yêu nước ở nhà tù Phú Lợi, nhân dân Ninh Bình vô vùng phẫn uất, căm thù. Từ ngày 20/1 đến ngày 15/02/1959, hơn 20 nghìn lượt công nhân, nông dân, cán bộ, bộ đội, thanh niên, học sinh tham gia mít tinh tố cáo tội ác dã man, hành động hèn hạ của Mỹ - Diệm đã ký vào bản kiến nghị gửi Uỷ ban Quốc tế giám sát thi hành Hiệp định Giơ ne vơ 1954 về Đông Dương, yêu cầu kiểm tra ngay tại chỗ về vụ này, đòi đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Ngô Đình Diệm chấm dứt ngay chiến dịch khủng bố trả thù kháng chiến và trả tự do cho những người yêu nước đang bị chúng giam giữ.

Biến đau thương thành hành động cách mạng, nhân dân Ninh Bình đã tổ chức làm việc thêm ngày, thêm giờ, làm lợi cho công quỹ 2.218.750 đồng và quyên góp được 968.909 đồng ủng hộ đồng bào và các gia đình có người bị giết hại ở nhà tù Phú Lợi.

Thực hiện chủ trương tiếp tục đẩy mạnh phong trào đoàn kết và ủng hộ đồng bào miền Nam, ngày 23/01/1960, Tỉnh uỷ, UBHC tỉnh  tổ chức lễ kết nghĩa 2 tỉnh Ninh Bình - Bạc Liêu. Tỉnh uỷ phát động phong trào thi đua lao động học tập, công tác và chiến đấu với chủ đề vì lao động, học tập, công tác và chiến đấu với chủ đề vì miền Nam ruột thịt kết nghĩa Ninh Bình Bạc Liêu. Các chiến dịch sản xuất đều gắn với phong trào kết nghĩa. Nhiều hoạt động kinh tế, xã hội với ý nghĩa kết nghĩa Ninh Bình - Bạc Liêu được hàng chục vạn người hăng hái tham gia như chiến dịch sản xuất Đông Xuân mang tên “Hòn Khoai - Quang Trung”  “Vì Bạc Liêu ruột thịt, giành cờ hồng lập công dâng Đảng” của đoàn thanh niên; phụ nữ có phong trào “Phất cờ Trưng nữ thi đua 5 tốt”. Đợt 1 của chiến dịch sản xuất “Hòn Khoai - Quang Trung” 12) năm 1960. Nhiều công trình thuỷ lợi, giao thông, đồng lúa, trường học, nhà hát mang tên “Ninh Bình - Bạc Liêu”.  Nhiều cán bộ Bạc Liêu tập kết ra Bắc về Ninh Bình công tác, học tập hoặc thường xuyên về thăm Ninh Bình. Thanh niên Ninh Bình được tổ chức thành từng đoàn vào Bạc Liêu chiến đấu, trong đó có 2 cán bộ Ty Thông tin  văn hoá tình nguyện mang theo máy chiếu phim vào phục vụ đồng bào và chiến sĩ Bạc Liêu.

Đến cuối năm 1960, Ninh Bình hoàn thành thắng lợi kế hoạch 3 năm cải tạo xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế và văn hoá (1958 - 1960). Thắng lợi đó làm chuyển biến sâu sắc to lớn đến đời sống kinh tế, chín trị, văn hoá của nhân dân trong tỉnh. Chế độ bóc lột phong kiến và tư bản chủ nghĩa căn bản bị xoá bỏ. Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa được xây dựng đang ngày càng tiến bộ, phát triển cả ở nông thôn và thành thị. Trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, thành phần kinh tế quốc doanh ngày càng lớn mạnh và chiếm ưu thế rõ rệt, thể hiện và phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân ở địa phương.

Trên cơ sở quan hệ sản xuất mới được thiết lập và ngày càng phát triển, các ngành kinh tế nông nghiệp, công nghiệp phát triển mạnh, giành được nhiều thắng lợi trong sản xuất, thúc đẩy các ngành tài chính, thương nghiệp, giao thông vận tải…có bước phát triển mới toàn diện.

Thắng lợi của công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa làm thay đổi căn bản quan hệ sản xuất, cơ cấu kinh tế và sự phát triển sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân trong tỉnh được nâng lên. Tuy nhiên những vùng đồng chiêm trũng và miền núi, đời sống nhân dân vẫn còn gặp nhiều khó khăn.

Công tác xây dựng Đảng trong 3 năm (1958 - 1960) có ý nghĩa quyết định đến công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế, văn hoá. Tỉnh uỷ thường xuyên chỉ đạo chặt chẽ những đợt vận động xây dựng đảng, củng cố tổ chức Đảng ở cơ sở, kiện toàn và bồi dưỡng lý luận chính trị cho các ban chi uỷ, tiến hành phân loại, phân công công tác cho đảng viên. Đảng bộ mở nhiều đợt vận động chỉnh huấn, nhiều lớp giáo dục huấn luyện bồi dưỡng chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Thông qua thực hiện phong trào cách mạng, các cấp uỷ và tổ chức đảng đã phát hiện và bồi dưỡng những nhân tố tích cực, ưu tú trong quần chúng kết nạp họ và Đảng và các đoàn thể quần chúng.

Những thắng lợi của công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế, văn hoá đã làm thay đổi hẳn quan hệ sản xuất, xoá bỏ tận gốc cơ sở kinh tế - xã hội của chế độ “người bóc lột người” mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển, tạo tiền đề cho việc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Từ đó mở ra một khả năng, triển vọng mới cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và chống Mỹ cứu nước giành thắng lợi.

III. THỰC HIỆN KẾ HOẠCH 5 NĂM LẦN THỨ NHẤT (1961 - 1965)

Tháng 9 năm 1960, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng nêu rõ 2 nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới: Đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đại hội đã thông qua kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965).

Sau ba năm cải tạo xã hội chủ nghĩa, nhận thức chính trị của cán bộ, đảng viên và nhân dân Ninh Bình được bồi thường nâng lên một bước. Đội ngũ giai cấp công nhân phát triển cả số lượng và chất lượng. Tuy nhiên, trình độ quản lý kinh tế - xã hội, năng lực tổ chức sản xuất của cán bộ còn yếu nên đã hạn chế một phần sự phát triển sản xuất và đời sống nhân dân ở một số địa phương trong tỉnh.

Mặt khác, bọn phản động tay sai của Mỹ - Diệm còn đang lẩn lút hoạt động, lợi dụng những thiếu sót, khó khăn của tình hình kinh tế - xã hội ở địa phương, chúng tăng cường những hoạt động phá hoại. Đồng thời, địch còn tung gián điệp, biệt kích ra miền Bắc hoạt động vũ trang phá hoại công cuộc xây dựng CNXH.

Từ sau Đại hội toàn quốc lần  thứ III của Đảng, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, quân và dân Ninh Bình hăng hái bắt tay vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên mảnh đất giàu truyền thống lịch sử vẻ vang.

Từ ngày 27/2 đến ngày 9/3/1961 Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII (vòng II) họp tại thị xã Ninh Bình, có 207 đại biểu (191 đại hiểu chính thức) tham dự.

Sau khi đánh giá những kết quả đã đạt được trong nhiệm kỳ Đại hội VII (tháng 1/1959), đại hội quyết định nhiệm vụ 2 năm 1961 - 1962: Ra sức phát triển nông nghiệp toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc làm cơ sở cho công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa. Trong nông nghiệp khâu chính ra sức phát triển lương thực, đồng thời ra sức phát triển công nghiệp địa phương phục vụ nông nghiệp, đẩy mạnh hoạt động của các ngành kinh tế, văn hoá để cải thiện một bước đời sống nhân dân; tiếp tục hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa  và xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng.

Đại hội đã đề ra những nhiệm vụ và chỉ tiêu cụ thể phát triển kinh tế văn hoá, xã hội đến năm 1962: Tổng sản lượng lương thực: 242.214 tấn, bình quân lương thực: 409kg một nhân khẩu. Diện tích khai hoang: 2 vạn mẫu, năm 1961, đưa 95% hộ nông dân vào HTX, thực hiện 3 khoán ở 80% số HTX trong tỉnh. Năm 1962, đưa số HTX quy mô thôn lên 80%, HTX bậc cao lên 30%. Căn bản hoàn thành HTX bậc cao và mở rộng quy môt HTX toàn xã ở những huyện có điều kiện. Phấn đấu đưa mức sống của nhân dân lao động trong tỉnh lên ngang mức sống của gia đình trung nông (đủ ăn, đủ mặc).

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh đề ra phương hướng và nhiệm vụ, những biện pháp lớn thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965). Nghị quyết Đại hội đã xác định: Công tác xây dựng Đảng là nhiệm vụ hàng đầu; công tác củng cố chính quyền và các đoàn thể quần chúng, tăng cường củng cố quốc phòng là những nhiệm vụ quan trọng, có tác dụng quyết định đến việc hoàn thành nhiệm vụ xây dựng phát triển kinh tế và các nhiệm vụ khác trong công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở địa phương.

Đại hội đã bầu Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh gồm 23 uỷ viên chính thức và 6 uỷ viên dự khuyết, đồng chí Vũ Thơ được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ.

Quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (tháng 9 - 1960), thực hiện Nghị quyết số 12 ngày 25 - 2-  1961 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng về cuộc vận động chỉnh huấn đảng viên, Tỉnh uỷ Ninh Bình mở lớp chỉnh huấn đầu tiên (từ ngày 30 - 3 - 1961) gồm các cán bộ lãnh đạo của tỉnh, các huyện và các ban, ngành của tỉnh. Tiếp sau đó các lớp chỉnh huấn đảng viên của Đảng bộ kết thúc ngày 25 - 9 - 1961. Trong cuộc chỉnh huấn này, ở địa bàn nông thôn, có 8689 đảng viên (đạt tỷ lệ 93,3%) tham gia. Có 52 đảng bộ xã 100% đảng viên tham gia chỉnh huấn.

Qua cuộc chỉnh huấn, cán bộ và đảng viên đều nhận thức rõ trách nhiệm của mình trước tình hình và nhiệm vụ của cách mạng trong giai đoạn mới, thấy rõ nhiệm vụ quan trọng số một là đẩy mạnh sản xuất, trước hết là sản xuất nông nghiệp, thực hành tiết kiệm, chống tham ô lãng phí, chống chủ nghĩa cá nhân, xây dựng tinh thần làm chủ tập thể, quyết tâm khắc phục khó khăn, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị.

Đồng thời với việc tổ chức cuộc chỉnh huấn đảng viên mùa xuân năm 1961, Tỉnh uỷ tập trung chỉ đạo các ngành, các cấp triển khai thực hiện nhiệm vụ do Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII đã đề ra về củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới. Từ tháng 4 đến tháng 8 - 1961, đã phát triển thêm 2.202 hộ nông dân vào HTX nông nghiệp, đưa tổng số hộ nông dân toàn tỉnh vào HTX lên 80.951 hộ, đạt tỷ lệ 91%. Tính đến tháng 8 - 1961, đã chuyển 539 HTX nông nghiệp bậc cao, gồm 40.724 hộ, bằng 52% số hộ đã vào HTX. Đặc biệt có 2 xã Hùng Vương (Kim Sơn) và Xích Thổ (Gia Viễn) đã  xây dựng HTX quy mô toàn xã.

Vụ sản xuất Đông Xuân (1960 - 1961), Ninh Bình giành thắng lợi cả về diện tích, năng suất và sản lượng. Phát huy thành tích đó, Tỉnh uỷ phát động chiến dịch “Thi đua vượt Hoa Tiên, kịp Đại Phong” 13) với 5 mũi tiến công: Đẩy mạnh sản xuất vụ mùa, đạt chỉ tiêu 450 kg lương thực bình quân đầu người, hoàn thành tốt công tác lương thực; tăng cường củng cố HTX, thực hiện 3 khoán trong HTX. Tích cực phòng chống bão lụt, lũ, úng, làm tốt công tác thuỷ lợi nhỏ, mở rộng chỉnh huấn cán bộ đảng viên, đoàn viên và tiến hành giáo dục quần chúng.

Từ ngày 20 - 6 đến ngày 2 - 9 - 1961, khí thế thi đua sản xuất trong tỉnh diễn ra rất sôi nổi. Các phong trào “Thi đua đạt năng suất cao”, phong trào làm thuỷ lợi, phong trào làm phân bón, phong trào “Giành cờ đỏ, bỏ cờ vàng” thu hút hàng chục vạn nông dân, bộ đội, học sinh tham gia.

Nắm vững tư tưởng chỉ đạo “Phát triển nông nghiệp là trọng tâm, thuỷ lợi là biện pháp hàng đầu” nhằm chủ động phòng chống thiên tai, bảo vệ phục vụ sản xuất, Tỉnh uỷ chỉ đạo chính quyền và các ngành chuyên môn lập quy hoạch thủy lợi 5 năm (1961 - 1965) và phát động nhiều chiến dịch làm thủy lợi trong từng vụ, từng năm.

Phong trào toàn dân làm thuỷ lợi phát triển rất mạnh mẽ. Kế hoạch “3 năm làm thuỷ lợi” (1959 - 1961) kết thúc thắng lợi. Tính đến cuối năm 1961, nhân dân toàn tỉnh đã đóng góp 9.322.000 ngày công đào đắp 3.094.440m3 đất, khai thác vận chuyển 15.847m3 đá, đổ 1.826m3 bê tông. Nhờ vậy, 41.634 ha lúa vụ chiêm (99,5% kế hoạch) và 32.320 ha lúa vụ mùa (94% kế hoạch) được bảo đảm đủ nước tưới.

Với những thành tích làm thuỷ lợi trong 3 năm (1959 - 1961) tỉnh Ninh Bình được nhà nước tặng thưởng 2 Huân chương lao động (hạng 2 và hạng 3), huyện Gia Viễn và 3 xã Liên Sơn (Gia Viễn) Khánh Nhạc, Khánh An (Yên Khánh) được tặng thưởng Huân chương lao động hạng 3.

Để khắc phục tình trạng hạn úng thường xuyên xảy ra, Tỉnh uỷ quyết định đưa công tác thuỷ lợi lên hàng đầu trong sản xuất nông nghiệp 2 năm (1961 - 1962). Tính đến cuối năm 1962, Ninh Bình cơ bản hoàn thành kế hoạch làm thuỷ lợi: Nắn dòng và đắp đê Hoàng Long, đắp đập Đầm Cút, đào sông Ghềnh, xây âu thuyền sông Vân. Nhiều kênh mương sông ngòi cũ được nạo vét khơi thông; sửa chữa và xây dựng mới 241 cống, đắp hàng chục km bờ vùng bờ thửa…. Nhờ vậy, diện tích cấy lúa toàn tỉnh tăng hơn năm trước gần 2000ha.

Từ ngày 5 đến ngày 9 - 9 - 1961, Hội nghị Tỉnh uỷ (mở rộng) đã quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá III, tháng 7 - 1961) và bàn phương hướng, nhiệm vụ phát triển sản xuất Đông Xuân 1961 - 1962.

Từ đầu năm 1962, nhân dân Ninh Bình thi đua sôi nổi đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp. Hàng chục ngàn người tham gia các chiến dịch “Nổi gió Đại Phong” (Gia Viễn), “Thắng nghèo nàn lạc hậu” (Gia Khánh), “Thắng nghèo nàn lạc hậu” (Gia Khánh), “Đông Xuân thắng lợi” (Yên Khánh) và “Lập công ba mừng” (Nho Quan).

Thực hiện Nghị quyết của Ban bí thư Trung ương Đảng về công tác báo chí địa phương, ngày 12/12/1961 Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Ninh Bình quyết định xuất bản, phát hành tờ báo “Ninh Bình xây dựng” trực thuộc Tỉnh uỷ, đo đồng chí Uỷ viên Thường vụ Tỉnh uỷ phụ trách. Báo “Ninh Bình xây dựng” 14) có trách nhiệm: Phổ biến chủ trương chính sách của Đảng của Chính phủ, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng bộ tỉnh và chính quyền địa phương; hướng dẫn kế hoạch công tác, trao đổi, phổ biến kinh nghiệm sản xuất quản lý và ý kiến nguyện vọng của nhân dân; động viên cổ vũ phong trào “người tốt, việc tốt” phê phán những tư tưởng và hành động bảo thủ lạc hậu.

Số 1 báo “Ninh Bình xây dựng” ra ngày 3/2/1962 và xuất bản mỗi tuần 2 kỳ.

Trong khí thế thi đua sôi nổi của các chiến dịch sản xuất, nông dân đã hoàn thành thu hoạch nhanh gọn lúa chiêm đạt năng suất cao và khẩn trương chuẩn bị sản xuất vụ đông xuân (1962 - 1963); gieo mạ đạt 106,95% kế hoạch, chuẩn bị đủ lượng phân bón. Đặc biệt phong trào làm bèo hoa dâu ở các HTX phát triển mạnh. Đến tháng 12/1962, cả tỉnh đã có 65 cơ sở thả được 52 mẫu bèo dâu giống để nhân ra diện rộng trong toàn tỉnh.

Năm 1962 là năm sản xuất nông nghiệp Ninh Bình phát triển tương đối toàn diện. Diện tích trồng thuốc lá, cói, bông, mía đạt 2353 ha (bằng 104% kế hoạch). Ngành chăn nuôi phát triển mạnh: Đàn gia súc, gia cầm tăng hơn năm trước (lợn tăng 35%, trâu tăng 3,2%, bò tăng 5,7%). Hai huyện Gia Viễn, Gia Khánh phát triển mạnh đàn gia súc, số trâu của huyện Gia Viễn tăng 7,5 của huyện Gia Khánh tăng 4,8% số bò của huyện Gia Khánh tăng 31,9%. Một số xã và HTX Đồng Xuân Tiến (Khánh Thành), HTX Thống Nhất xã Khánh Trung (Yên Khánh), HTX Võng (Nho Quan). Phong trào chăn nuôi tập thể được củng cố và phát triển. Cả tỉnh có 30 trại chăn nuôi lợn tập thể, trong đó có 6 trại lớn, mỗi trại có 120con. Năm 1962, cung cấp 1875 tấn thịt lợn cho Nhà nước. Đàn trâu bò sinh sản phát triển mạnh có 2556 con, bằng 7,6% tổng số trâu bò.

Điển hình là các HTX Khánh Cư, Hoa Tiên, Lương Sơn. Phong trào nuôi thả cá được mở rộng; có 453 trong số 656 HTX kinh doanh nuôi thả cá trên diện tích 10.200 ha ao hồ. Nhiều HTX nuôi cá giống, vớt cá bột. Năm 1962, toàn tỉnh thu hoạch được 1670 tấn cá, bình quân nhân khẩu 3,5kg. Ninh Bình là đơn vị lá cờ đầu miền Bắc về phong trào nuôi cá trong 2 năm (1962 - 1963).

Đầu năm 1963, trên địa bàn tỉnh có 82,597 mẫu lúa chiêm bị hạn. Trước tình hình đó, Tỉnh uỷ phát động phong trào toàn dân chống hạn, với phương châm huy động toàn dân tập trung cao độ vào nhiệm vụ chống hạn cứu lúa, nêu khẩu hiệu “chống hạn như chống giặc”. Hơn 2000 cán bộ, bộ đội và hàng chục ngàn nông dân, học sinh hăng hái tham gia phong trào chống hạn cứu lúa. Trong đợt chống hạn đầu năm 1963, nhân dân toàn tỉnh đã tham gia hơn 200.000 ngày công, nạo vét 595 con ngòi cũ, đào 163 con ngòi mới, đào 391 giếng lấy nước…Nhờ vậy, đã cứu được 49,079 mẫu lúa khỏi bị hạn và cấy được 108,442 mẫu lúa. Chỉ tính trong 3 ngày tết nguyên đán năm 1963, nhân dân tham gia chống hạn đã cứu được 16.600 mẫu lúa khỏi bị hạn:

Hưởng ứng phong trào thi đua giành vụ mùa đạt năng suất cao do Hội đồng Chính phủ phát động, Tỉnh uỷ và UBHC tỉnh Ninh Bình mở đợt vận động sản xuất từ tháng 8 đến tháng 10/1963, lấy tên “Chiến thắng Quỳnh Lưu - Ấp Bắc”, tính chung trong năm 1963, diện tích gieo trồng toàn tỉnh đạt 106% kế hoạch, tăng 1,9% so với năm 1962.

Tháng 8/1963, đại hội Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ IX họp tại thị xã Ninh Bình (hội trường Trần Kiên) đã đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị do Đại hội đảng bộ tỉnh lần thứ VIII đề ra. Đại hội nhấn mạnh: Tình hình kinh tế - xã hội trong tỉnh đã có những biến đổi sâu sắc, quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa không ngừng được củng  cố và phát triển; cơ sở sản xuất tập thể bước đầu phát huy tác dụng, cơ sở sản xuất tập thể được phát huy tác dụng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội bắt đầu được xây dựng, sản xuất công nghiệp 15), nông nghiệp phát triển khá, sự nghiệp văn hoá giáo dục, y tế phát triển với tốc độ nhanh, quốc phòng an ninh được củng cố, giữ vững. Nhiều huyện, xã là đơn vị lá cờ đầu toàn miền Bắc về một số lĩnh vực như giao thông nông thôn (Yên Khánh) phát hành sách báo (Gia Viễn) trồng cây công nghiệp (Nho Quan) bảo vệ trị an xã Yên Phong (Yên Mô) phong trào văn hoá quần chúng xã Gia Phong (Gia Viễn)…

Đại hội cũng chỉ ra những tồn tại, khuyết điểm trong lãnh đạo chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng chưa tập trung vào những khâu quan trọng và những vùng quan trọng. Nhìn chung tốc độ xây dựng CNXH ở trong tỉnh còn chậm, năng suất lúa còn thấp, chưa ổn định. Quản lý sản xuất và lao động còn lỏng lẻo chưa hợp lý, chưa phát huy tính tích cực chủ động của nông dân, đất bỏ hoang hoá còn nhiều, chưa chú ý phát triển kinh tế gia đình. Đàn lợn tập thể mới dừng ở số lượng, thấp về chất lượng, không tính đến hiệu quả kinh tế. Một số cây công nghiệp: Cói, thuốc lá và nông sản khác có ưu thế của địa phương chưa được phát triển mạnh. Thuỷ lợi còn nhiều vấn đề phải giải quyết. Công nghiệp còn nhỏ bé, thủ công nghiệp sút kém, hàng hoá tiêu dùng còn quá ít. Núi đá, mặt biển chưa được khai thác; đồi trọc đất hoang chưa được thanh toán. Trong tổ chức thực hiện còn lúng túng, phát huy dân chủ đối với địa phương chưa được đảm bảo, bộ máy giúp việc cấp uỷ chưa được đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, tổ chức cơ sở Đảng chưa được tăng cường về chất lượng.

Về phương hướng, nhiệm vụ, kinh tế - xã hội nhiệm kỳ 1963 - 1965, Nghị quyết đại hội nêu rõ: Đẩy mạnh xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội của các xí nghiệp, các HTX đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp phát triển toàn diện, tập trung phải giải quyết tốt vấn đề lương thực; phát triển công nghiệp địa phương và giao thông vận tải, củng cố hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, nâng cao đời sống nhân dân…

Đại hội nhấn mạnh tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng, củng cố đoàn kết nội bộ; phát huy mạnh mẽ tác dụng của đoàn thể quần chúng, cơ quan chính quyền, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tư tưởng trong nhân dân.

Đại hội đã đề ra một số chỉ tiêu cụ thể và những biện pháp lớn cho các nghành: Giá trị sản lượng nông nghiệp tăng bình quân hàng năm 11%. Tổng diện tích cấy lúa cả năm đạt 84.489 ha, tăng bình quân hàng năm 1,5%. Sản lượng lúa tăng bình quân hàng năm 4,8%...

Nghị quyết đại hội chỉ rõ: Để thực hiện được các chỉ tiêu kinh tế nông nghiệp, trong 3 năm tới (1963 - 1965) phải tích cực củng cố HTX, làm tốt cuộc vận động cải tiến quản lý HTX, cải tiến kỹ thuật… xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho sản xuất nông nghiệp.

Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX đã bầu Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh gồm 19 uỷ viên chính thức, 2 Uỷ viên dự khuyết, đồng chí Nguyễn Thanh được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ.

Quán triệt quan điểm: “Cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt” trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, triển khai tổ chức thực hiện Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX, Tỉnh uỷ chú trọng tập trung lãnh đạo đẩy mạnh tiến hành cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật ở địa phương. Phong trào cải tiến công vụ sản xuất, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào khâu chọn giống cây trồng con nuôi, gieo cấy đúng kỹ thuật, chế biến phân bón, sử dụng xe thô sơ trâu bò kéo… được các cấp uỷ Đảng, chính quyền quan tâm chỉ đạo tổ chức thực hiện. Nhiều cuộc học tập, hội nghị đầu bờ rút kinh nghiệm về việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, về việc cải tiến quản lý sản xuất ở các HTX điển hình…. Qua đó phổ biến rộng rãi trong toàn tỉnh.

Kết thúc đợt I (từ tháng 7 đến tháng 9/1963) làm thí điểm cuộc vận động “Cải tiến quản lý HTX nông nghiệp” đã thực hiện được 47/600 HTX trong tỉnh. Các HTX được củng cố và kiện toàn tổ chức, cơ sở vật chất kỹ thuật được xây dựng thêm. Các HTX Xích Thổ (Gia Viễn) Hoàng Sơn, La Mai (Gia Khánh) và nhiều HTX khác đã thuyết phục được những xã viên trước đây có tư tưởng chưa ổn định “chân trong, chân ngoài” nay yên tâm ở lại HTX, tích cực sản xuất. Diện tích lúa mùa năm 1963 cả tỉnh đạt 102% kế hoạch. Chống úng cứu được 35.080 ha lúa. Trồng cây màu đều vượt kế hoạch diện tích: vừng 242%, ngô 226%, đậu 190%, lạc 130%...

Từ tháng 10/1963, Tỉnh uỷ chỉ đạo chỉ triển khai cuộc vận động cải tiến quản lý HTX nông nghiệp, cải tiến kỹ thuật ra diện rộng toàn tỉnh. Đến tháng 12/1964 Ninh Bình đã căn bản hoàn thành cuộc vận động cải tiến quản lý HTX nông nghiệp đợt 3 và đợt 4. Có 525 HTX bằng 80% tổng số HTX hoàn thành cuộc vận động các HTX đã xác định được phương hướng sản xuất, củng cố kiện toàn tổ chức từ đội sản xuất đến ban quản trị. Tình trạng sản xuất độc canh cây lúa, cấy một vụ ở nhiền HXT trong tỉnh đã được khắc phục một bước. Qua cuộc vận động, việc phân công lao động tổ chức sản xuất ở HTX có tiến bộ nhiều, đạt hiệu quả. Cơ sở vật chất - kỹ thuật của HTX được tăng cưòng, ý thức làm chủ tập thể của xã viên được nâng cao, hiện tượng tham ô, lãng phí giảm đi nhiều.

Kết thúc việc thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965) ngành sản xuất nông nghiệp Ninh Bình đạt được nhiều thành tựu to lứon. Giá trị sản lượng nông nghiệp năm 1965 đạt 86.102.000 đồng, tăng 18,5% khoai tăng 30,8% (so với năm 1963)… sản xuất nông nghiệp đảm bảo được tính toàn diện. Vấn đề lương thực thực phẩm đã được giải quyết tương đối tốt.

Tốc độ phát triển nông nghiệp nhanh. Tổng sản lượng lương thực năm 1965 đạt 209.439 tấn, tăng 9,6% so với năm 1964, tính riêng thóc đạt 170.168 tấn, đạt 121%. Cây công nghiệp (cả diện tích và sản lượng ) tăng hơn trước. Cây thuốc lá đạt 102% kế hoạch diện tích, sản lượng tăng 107%, cây cói tăng 65% so với năm 1964.

Năng suất lúa tăng rõ rệt, vụ chiêm đạt 21,22tạ/ha, năng suất cả năm vượt 34% chỉ tiêu kế hoạch, tăng 15% so với năm 1964. Huyện Kim Sơn, 19 xã, 100 HTX đạt mục tiêu năng suất 5 tấn/ha.

Bình quân lưong thực tính theo nhân khẩu đạt 439 kg/năm, tăng 12kg so với năm 1964.

Tính đến năm 1965, cơ sở vật chất-kỹ thuật của HTX trong toàn tỉnh có 50 đầu máy kéo thuộc các trạm máy kéo huyện, tăng thêm 6 máy phát điện, 42 máy xay xát, 167 máy bơm nước, 79 máy tuốt lúa. 958.080 msân phơi, 5562 gian nhà kho, 2600 gian chuồng trại chăn nuôi lợn tập thể, 4953 nhà chế phân bón, 537 lò sấy thuốc lá, 312 lò gạch, 426 lò vôi…

Đại hội các điển hình tiên tiến sản xuất nông nghiệp toàn tỉnh với 300 đại biểu tham dự, đánh dấu bước trưởng thành của phong trào hợp tác hoá nông nghiệp và thi đua sản xuất nông nghiệp. Nhiều đơn vị là lá cờ đầu toàn miền Bắc về chăn nuôi, cải tiến nông cụ, thuỷ lợi… nhiều cá nhân là chiến sĩ thi đua nông nghiệp cấp tỉnh và toàn miền Bắc. Tiêu biểu là anh hùng lao động Trần Trung Nguyên (xã Gia Sinh, Gia Viễn). Song song với phát triển nông nghiệp, thực hiện đường lối xây dựng kinh tế địa phương của Trung ương Đảng, Đảng bộ tỉnh ra Nghị quyết về phát triển công nghiệp và thủ công nghiệp. Tích cực củng cố công nghiệp theo hướng phục vụ sản xuất nông nghiệp, xây dựng cơ bản sản xuất và đời sống nhân dân, tiến tới tự sản xuất một số hàng hoá tiêu dùng ở địa phương. Từ năm 1961, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã ra nghị quyết về việc khẩn trương đẩy mạnh việc củng cố và phát triển công nghiệp và thủ công nghiệp ở địa phương. Nghị quyết nêu rõ: Tăng cường củng cố xí nghiệp quốc doanh và HTX thủ công nghiệp hiện có, tích cực mở thêm cơ sở sản xuất và ngành nghề mới; chấn chỉnh lại tổ chức quản lý sản xuất; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công nghiệp và thủ công nghiệp.

Thực hiện Nghị quyết của Tỉnh uỷ, ngành công nghiệp trong tỉnh tập trung vốn đầu tư xây dựng một số xí nghiệp sản xuất phân lân, khai thác đôlômít, sản xuất xi măng…phục vụ sản xuất nông nghiệp và xây dựng cơ bản. Ngành cơ khí hình thành một mạng lưới từ tỉnh đến HTX, sản xuất cung cấp cho nông nghiệp hàng vạn công cụ sản xuất đảm bảo sửa chữa công cụ và cơ khí nhỏ. Xí nghiệp cơ khí Ninh Bình 16) sản xuất được máy công cụ nhỏ và vừa như máy bơm nước công suất 300m3/giờ, máy xay xát, máy tuốt lúa, đóng và lan sắt. Các xí nghiệp chế biến nông sản và sản xuất hàng tiêu dùng ngày càng mở rộng, đáp ứng yêu cầu phục vụ đời sống nhân dân. Giá trị tổng sản lượng công nghiệp năm 1962 tăng gấp 12 lần so với năm 1955. Tổng sản phẩm công nghiệp và thủ công nghiệp tăng 637,3%. Đến năm 1963, cả tỉnh có 11 xí nghiệp quốc doanh.

Cũng trong năm 1963, ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đã triển khai thực hiện cuộc vận động “Ba xây ba chống” cải tiến quản lý xí nghiệp. Qua cuộc vận động đã nâng cao ý thức trách nhiệm của công nhân viên chức, tăng cường một bước quản lý kinh tế tài chính, xây dựng được ý thức tinh thần đấu tranh chống quan liêu, tham ô, lãng phí các HTX thủ công nghiệp được củng cố về tổ chức và quản lý sản xuất, bước đầu có phương hướng và kế hoạch sản xuất tương đối ổn định, hạn chế được lối kinh doanh đơn thuần và hiện tượng tiêu cực.

Cuộc vận động “Ba xây ba chống” đã nâng cao tinh thần làm chủ và ý thức trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và công nhân trong các xí nghiệp. Nhờ vậy, giá trị sản lượng công nghiệp ngày càng tăng, chất lượng sản phẩm ngày càng tốt hơn, góp phần tích cực phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân. So với năm 1964, giá trị công nghiệp quốc doanh năm 195 tăng 6,7%, thủ công nghiệp tăng 23%. Tuy nhiên, chỉ có 4 trong số 11 xí nghiệp quốc doanh đạt chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước. Nguyên nhân vì cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đánh phá thị xã từ tháng 5/1965, các cơ sở công nghiệp phải tạm ngừng sản xuất để di chuyển sơ tán đến địa điểm mới.

Ngành giao thông vận tải trong những năm 1961 - 1965 phát triển mạnh. Các đường giao thông quốc lộ 1A, 10, 59, 12 đều được bảo dưỡng và nâng cấp. Phong trào làm được giao thông nông thôn phát triển mạnh mẽ. Hầu hết các xã đều đã sử dụng xe cải tiến, xe bò bánh lốp vào việc vận chuyển phục vụ sản xuất nông nghiệp. Trong địa bàn toàn tỉnh đã có hơn 200km đường liên xã, hàng nghìn km đường liên thôn. Nhiều xã đã làm được đường ô tô, năm 1965, ngành giao thông có bước phát triển mạnh đáp ứng phục vụ sản xuất, đời sống nhân dân và đặc biệt đảm bảo giao thông thông suốt phục vụ tích cực cho nhiệm vụ chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ và vận tải phục vụ chiến trường miền Nam.

Quán triệt Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII (tháng 2/1961) lần thứ IX (tháng 8/1963), Tỉnh uỷ chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế và công tác văn hoá xã hội.

Sau Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII (2/1961), Tỉnh uỷ và Nghị quyết chuyên đề về công tác chỉ đạo các cấp, các ngành quan tâm chăm lo xã hội phát triển giáo dục, y tế, văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao. Đồng thời, Tỉnh uỷ phát động nhiều chiến dịch, nhiều phong trào thi đua xây dựng ngành giáo dục, ngành y tế, xây dựng nếp sống văn hoá mới, con người mới xã hội chủ nghĩa.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sự tiếp của các cấp uỷ Đảng và chính quyền, phong trào toàn dân tham gia xây dựng phát triển giáo dục và y tế chuyên đề về công tác văn hoá - xã hội. Tỉnh uỷ UBHC tỉnh tập trung chỉ đạo các cấp, các ngành  y tế, xây dựng nếp sống văn hóa mới, con người mới xã hội chủ nghĩa.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của các cấp uỷ Đảng và chính quyền, phong trào toàn dân tham gia xây dựng phát triển giáo dục và y tế diễn ra sôi nổi mạnh mẽ, thu hút hàng chục vạn quần chúng tham gia. Hàng triệu ngày công của nhân dân tham gia, đóng góp hàng trăm triệu đồng xây dựng trường học, trạm y tế, bệnh viện huyện, tỉnh.

Ngành học phổ thông phát triển mạnh mẽ rộng khắp trong toàn tỉnh. Năm học 1961 - 1962, cả tỉnh có 3 trường cấp III gồm 25 lớp với 1403 học sinh, cấp II có 261 lớp với 21.095 học sinh, cấp I có 1370 lớp với 70.042 học sinh, vỡ lòng có 21.248 cháu. Mẫu giáo có 6313 cháu đến lớn. Đến năm học 1964 - 1965, toàn tỉnh đã xây dựng được 10 trường cấp III với 3696 học sinh, tăng 41%, cấp II có 110 trường với 26.186 học sinh, tăng 23,1% cấp I có 142 trường với 73.371 học sinh, tăng 5,7% (so với năm 1964).

Năm 1962, Ninh Bình thành lập trường sư phạm bổ túc văn hoá. Năm học 1961 - 1962 cả tỉnh có 23.000 người đi học bổ túc văn hoá, đạt tỷ lệ 112% kế hoạch. Năm học 1964 - 1965 có 31.380 người đi học bổ túc văn hoá tăng 1380 người so với kế hoạch. Ninh Bình hoàn thành kế hoạch bổ túc văn hoá 5 năm (1961 - 1965) trước thời gian, dẫn đầu miền Bắc.

Phong trào văn hoá văn nghệ quần chúng được đẩy mạnh. Tất cả các xã trong tỉnh đều có đội văn nghệ, đội thông tin tuyên truyền. Hoạt động văn hoá diễn ra sôi nổi với nhiều hình thức phong phú: Chiếu bóng, đèn chiếu ca múa nhạc. Đặc biệt phong trào xây dựng gia đình văn hoá mới, con người mới xã hội chủ nghĩa được các cấp uỷ Đảng tập trung chỉ đạo, nên đạt được nhiều thành tích. Nhiều xã có 100% gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá mới. Xã Gia Phong (Gia Viễn) là đơn vị lá cờ đầu trong phong trào văn hoá quần chúng, toàn miền Bắc 5 năm liền.

Năm 1962, Ninh Bình thành lập đội chiếu bóng được trang bị đủ máy nổ, máy chiếu đưa vào phục vụ đồng bào Bạc Liêu. Công tác y tế được đẩy mạnh có bước tiến bộ. Ngành y tế tập trung chỉ đạo xây dựng phong trào vệ sinh, bảo vệ sức khoẻ được hàng chục vạn người hưởng ứng tham gia. Tính đến năm 1965, Ninh Bình đã căn bản xoá được các bệnh dịch. Hàng năm có hàng chục ngàn người được khám và chữa bệnh; có hàng chục ngàn người tham gia các phong trào rèn luyện sức khoẻ như chạy, võ dân tộc, bơi, bắn súng…

Trong 5 năm (1961 - 1965), Ninh Bình xây dựng được 3 bệnh viện đa khoa, 10 bệnh xá, 124 trạm xá xã có y sĩ phụ trách.

Trong khi nhân dân Ninh Bình cùng nhân dân cả nước hăng hái thi đua phấn đấu thực hiện hoàn thành kế hoạch 5 năm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội và phát triển văn hóa ở miền Bắc, thì ở miền Nam đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai tiến hành “chiến tranh đặc biệt” hòng tiêu diệt cách mạng miền Nam, thực hiện âm mưu xâm lược nước ta. Quán triệt đường lối cách mạng của Đảng về nhiệm vụ bảo vệ cách mạng miền Nam, thực hiện giải phóng miền Nam thống nhất nước nhà. Đảng bộ Ninh Bình đã ý thức được nhiệm vụ củng cố xây dựng và tăng cường quốc phòng, làm tốt công tác an ninh trật tự.

Tỉnh Ninh Bình nằm ở vị trí có nhiều đầu mối giao thông quan trọng nên vấn đề xây dựng củng cố quốc phòng và an ninh chính trị có ý nghĩa rất lớn. Thực hiện kế hoạch 5 năm (1961 - 1965), Đảng bộ coi trọng lãnh đạo công tác xây dựng, củng cố quốc phòng và an ninh. Tỉnh uỷ chỉ đạo các cấp uỷ, các ngành xây dựng kế hoạch công tác động viên, sẵn sàng chiến đấu, phương án tác chiến tại chỗ, bảo đảm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đánh thắng địch trong mọi tình huống.

Trong 5 năm (1961 - 1965) Đảng bộ chú  trọng việc củng cố chất lượng chính trị hàng năm cho lực lượng vũ trang. Dân quân, tự vệ, bộ đội địa phương thường xuyên được học tập chính trị, thông qua rèn luyện trong các lĩnh vực công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa, thi đua sản xuất, xây dựng hợp tác hoá nông nghiệp… Nhờ đó trình độ giác ngộ xã hội chủ nghĩa ý thức cảnh giác sẵn sàng chiến đấu, ý thức tổ chức kỷ luật nâng lên.

Thực hiện Nghị quyết số 39 của Bộ Chính trị và Chỉ thị số 40 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác an ninh quốc phòng trong tình hình mới, Tỉnh uỷ Ninh Bình chủ trương phát động phong trào toàn dân tham gia công tác đấu tranh chống bọn phản động, chống chiến tranh tâm lý, chiến tranh gián điệp của địch, tăng cường cảnh giác, xây dựng vùng ven biển có đông đồng bào theo đạo Thiên chúa thành địa bàn vững mạnh về an ninh chính trị và quốc phòng. Đồng thời chú trọng các địa bàn xung yếu khác.

Nghị quyết hội nghị Tỉnh uỷ (12 đến 14/5/1962) nêu 7 nhiệm vụ cụ thể đấu tranh chống bọn phản cách mạng: (1) đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục lòng yêu nước, ý thức cảnh giác, tích cực tham gia trấn áp bọn phản cách mạng, cải tạo tề nguỵ phản động; (2) tập trung cải tạo những phần tử nguy hiểm, giữ gìn trật tự an ninh, tích cực phát hiện và kiên quyết trấn áp bọn giám điệp, bọ phá hoại hiện hành; (3)Củng cố làm trong sạch địa bàn trọng yếu và làm cho những địa bàn này tiến kịp phong trào chung; (4)Tăng cường công tác điều tra nắm tình hình địch, nhất là tình hình bọn gián điệp và bọn biệt kích còn ẩn nấp; (5)Tăng cường công tác bảo vệ nội bộ, bảo vệ nghiêm mật các cơ quan, xí nghiệp, kho tàng quan trọng; (6)Chuẩn bị tốt mọi mặt âm mưu gây rối trật tự, gây bạo động khiêu khích; (7)Củng cố hệ thống bộ máy chuyên chính nhất là chính quyền, công an, dân quân.

Đến cuối tháng 5/1962 toàn tỉnh triển khai học tập nghiên cứu Nghị quyết số 39 của Bộ chính trị, Chỉ thị số 40 của Ban bí thư Trung ương và Nghị quyết của Tỉnh uỷ về củng cố tăng cường công tác an ninh quốc phòng, đồng thời liên hệ với tình hình địa phương, cơ sở và đề ra kế hoạch tổ chức thực hiện.

Với tinh thần cảnh giác cao, ngay từ năm đầu thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965) quân và dân Ninh Bình đã đập tan âm mưu thực hiện chiến tranh gián điệp với miền Bắc của đế quốc Mỹ. Tháng 7 - 1961 chiếc máy bay C47 của Mỹ - Diện chở biệt kích định thả xuống huyện Kim Sơn, nhưng đã bị rơi tại bãi biển Cồn Thoi (Kim Sơn). Quân và dân huyện Kim Sơn đã bắt gọn 3 tên biệt kích còn sống sót.

Không từ bỏ âm mưu phá hoại miền Bắc, ngày 7 - 6 - 1963 đế quốc Mỹ và bọn tay sai tiếp tục thả một toán biệt kích xuống địa bàn thuộc 2 xã Khánh Cường, Khánh Mậu (Yên Khánh). Với tinh thần cảnh giác và sẵn sàng chiến đấu cao, lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân kịp thời bao vây, bắt gọn 4 tên biệt kích cùng với 4 kiện hàng và 8 chiếc dù ngay khi chúng vừa chạm đất.

Phong trào toàn dân làm công tác bảo vệ trị an trong tỉnh diễn ra sôi nổi, thu hút hàng trăm ngàn người hăng hái, tích cực tham gia. Các xã vùng xung yếu như Tô Hiệu, Kim Tân, Kim Mỹ, Văn Hải, Thanh Giản, Công Trứ (Kim Sơn) Yên Thái, Yên Thắng, Yên Bình, Yên Sơn, Yên Phong (Yên Mô), Quảng Lạc, Vinh Quang, Yên Quang, Quang Trung, Văn Phú, Yên Phú, Yên Phong, Lạc Hồng, Lạc Phong (Nho Quan) được các cấp uỷ và chính quyền địa phương quan tâm tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức tốt phong trào, củng cố giữ vững được an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Tại Hội nghị tổng kết phong trào bảo vệ trị an toàn miền Bắc (tháng 4 - 1963), xã Yên Phong (Yên Mô) được Hồ Chủ tịch tặng bằng khen và danh hiệu “Lá cờ đầu bảo vệ trị an toàn miền Bắc”. Năm 1965, toàn tỉnh tiến hành củng cố, kiện toàn lực lượng công an xã, có 121 trưởng công an xã là đảng uỷ viên, 242 phó công an xã là đảng viên, 2.643 đội sản xuất trong các HTX nông nghiệp có công an viên.

Phong trào toàn dân tham gia bảo vệ trị an đã góp phần cùng lực lượng bộ đội, công an trong tỉnh thực hiện đấu tranh thường xuyên, đấu tranh tập trung, từng đợt chống gián điệp, biệt kích, phản động nội địa và các phần tử xấu. Trong 5 năm (1961 - 1965), đã triệt phá được 7 tổ chức phản động và 8 tổ chức khác có âm mưu phản loạn ở các huyện Kim Sơn, Yên Khánh, Yên Mô và Nho Quan. Bắt xử tù 75 tên, hầu hết chúng là tề nguỵ, gián điệp, chỉ điểm, đảng phái phản động trước đây.

Việc triệt phá các ổ nhóm phản cách mạng đã bước đầu làm trong sạch các địa bàn xung yếu, tạo điều kiện để đánh thắng địch xâm nhập từ bên ngoài vào. Tổng kết công tác bảo vệ trị an năm 1965, toàn tỉnh có 72 xã khá, trong đó có 46 xã đạt tiêu chuẩn “xã Yên Phong”, 48 xã trung bình, còn 3 xã kém, 17 xóm yếu (năm 1964 có 7 xã kém, 36 xóm yếu).

Thực hiện nhiệm vụ xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng trong 5 năm xây dựng phát triển kinh tế văn hoá (1961 - 1965) Đảng bộ mở cuộc vận động “Xây dựng dân quân tự vệ”, “xây dựng lực lượng hậu bị hùng mạnh”, “Quân đội chính quy hiện đại”.

Cuộc vận động xây dựng củng cố quốc phòng được các cấp uỷ Đảng, chính quyền, cơ quan quân sự và các ngành quan tâm tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện, thu hút hàng chục vạn người tham gia. Trong lực lượng vũ trang địa phương dấy lên phong trào rèn luyện hưởng ứng phong trào thi đua “Ba nhất” của toàn quân. 100% số xã trong tỉnh đã kiện toàn bộ máy chỉ huy quân sự xã, các đại đội, trung đội. Cấp uỷ cử uỷ viên có năng lực chuyên trách xây dựng lực lượng vũ trang và phụ trách công tác quân sự. 100% đảng viên trong độ tuổi và đoàn viên đều tham gia dân quân, tự vệ. Các ngành, các giới, các HTX nông nghiệp đều chăm lo xây dựng lực lượng. Các đơn vị dân quân tự vệ được huấn luyện quân sự và học tập chính trị 100%. Các phương án tác chiến được xây dựng, ý thức cảnh giác sẵn sàng chiến đấu được nâng cao.

Tháng 6 - 1963, Tỉnh đội phát động phong trào “thi đua quyết thắng” theo nội dung tiêu chuẩn của Tổng cục chính trị QĐNDVN đề ra. Phong trào thi đua quyết thắng trong lực lượng vũ trang diễn ra sôi nổi mạnh mẽ rộng khắp cả tỉnh. Chỉ tính 6 tháng cuối năm 1963, có 96,4% số đơn vị dân quân, tự vệ triển khai huấn luyện, 42 xã, 217 trung đội dân quân tự vệ hoàn thành chương trình huấn luyện 3 môn (bắn súng, ném lựu đạn, gài chông mìn). Công tác đăng ký và quản lý quân dự bị được triển khai tổ chức thực hiện tốt. Hầu hết các sĩ quan, hạ sĩ quan và chiến sĩ phục viên hoặc chuyển ngành về địa phương đều đăng ký quân dự bị hạng 1. Tất cả các công dân trong lứa tuổi làm nghĩa vụ hăng hái đăng ký quân dự bị hạng 2. Chỉ tiêu khám tuyển quân sự và nhập ngũ hàng năm đều đảm bảo đủ số lượng và chất lượng, đúng thời gian.

Tính đến tháng 9 - 1964, toàn tỉnh có 35.483 dân quân, tự vệ 17) bằng 7% số dân trong tỉnh. Số tự vệ khối cơ quan xí nghiệp, nhà máy bằng 40% tổng số công nhân viên chức. Tỉnh tổ chức 13 trung đội dân quân trực thuộc huyện, 10 trung đội dân quân tập trung nơi xung yếu và các đội quân báo trinh sát, cứu thương, bắn máy bay, đánh quân nhảy dù, quân đổ bộ đường biển, 1 trung đội súng máy cao xạ 14 ly 5 (B63) và 1 đại bộ binh (C198) bộ đội tỉnh được thành lập. Năm 1965, xây dựng 1 tiểu đoàn bộ binh địa phương (gồm 2 đại đội và 3 trung đội), 6 đại đội pháo cao xạ, 2 đại đội công binh.

Đi đôi với việc xây dựng lực lượng vũ trang tại chỗ sẵn sàng chiến đấu đánh địch, trên địa bàn toàn tỉnh đã triển khai thực hiện “quân sự hoá”. Mọi hoạt động đều được chuyển hướng phù hợp với thời chiến kể từ sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ (5 - 8 - 1964) do đế quốc Mỹ gây ra. Thị xã Ninh Bình đã tổ chức màng lưới phòng không nhân dân. Các cơ quan, xí nghiệp, thị xã, thị trấn, vùng ven đường quốc lộ, ven biển tiến hành đào hầm hố phòng tránh bom đạn và xây dựng cộng sự chiến đấu ở khu vực thị xã Ninh Bình, đã đào được 1599 hầm hố tránh bom đạn, hàng nghìn mét giao thông hào. Đến cuối năm 1964, tất cả các huyện, xã, thị xã, thị trấn, công - nông trường, xí nghiệp, cơ quan đề xây dựng xong phương án tác chiếc.

Song song với nhiệm vụ xây dựng phát triển kinh tế văn hoá và chuẩn bị chiến đấu bảo vệ miền Bắc XHCN, nhân dân Ninh Bình hăng hái hưởng ứng phong trào chi viện sức người, sức của cho cách mạng miền Nam.

Sau hội nghị chính trị đặc biệt do Hồ Chủ Tịch triệu tập họp tại Hà Nội (ngày27,28/3/1964), phong trào thi đua “một người làm việc bằng hai vì đồng bào miền Nam ruột thịt” thu hút hàng vạn công nhân, nông dân, cán bộ, bộ đội, học sinh tham gia các hoạt động nhằm ủng hộ, chi viện cho cách mạng miền Nam. Năm 1965, Ninh Bình nộp thuế và bán lương thực nghĩa vụ hơn 4 vạn tấn, tăng 1 vạn tấn so với năm 1964, bán thóc khuyến khích: 1,5vạn tấn, gấp 2 lần năm 1964, bằng 17 lần năm 1963. Trong đó nhiều xã, HTX vượt mức bình quân mỗi hộ bán cho nhà nước 1 tấn thóc. Cả tỉnh bán 2300 tấn thịt lợn, tăng 31% so với năm 1964.

Do đạt được nhiều thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa, năm 1965 toàn tỉnh có 28 đơn vị được công nhận là “tổ đội lao động XHCN” (tăng 8 đơn vị so với năm 1964), 52 HTX nông nghiệp được công nhận là HTX tiên tiến (tăng 12 HTX so với năm 1964).

Công tác động viên  tuyển quân hàng năm Ninh Bình luôn hoàn thành vượt mức chỉ tiêu trên giao với chất lượng cao. Hàng nghìn thanh niên tình nguyện nhập ngũ, xung phong ra mặt trận đánh Mỹ.

Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (tháng 9/1960) bước vào thực hiện kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế và văn hoá (1961 - 1965), Đảng bộ tỉnh rất chú trọng công tác xây dựng Đảng. Tỉnh uỷ xác định đây là nhiệm vụ quan trọng số một trong toàn bộ công tác lãnh đạo phong trào cách mạng ở địa phương.

Đồng thời với việc tổ chức sinh hoạt chính trị “Chỉnh huấn mùa xuân” năm 1961, Tỉnh uỷ mở cuộc vận động xây dựng chi bộ tiên tiến, đảng viên gương mẫu, với nội dung xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đảm bảo làm tròn chức năng lãnh đạo nhân dân thực hiện hoàn thành nhiệm vụ xây dựng phát triển kinh tế, văn hoá ở địa phương; đồng thời nâng cao nhận thức giác ngộ XHCN cho đảng viên, rèn luyện đảng viên đủ sức lãnh đạo quần chúng.

Qua một năm thực hiện cuộc vận động có 47 đảng bộ xã, 162 chi bộ khá về nhiều mặt hoặc xuất sắc từng mặt công tác như các đảng bộ xã18) Khánh Cư (Yên Khánh), Gia Hưng (Gia Viễn), Hồng Phong, Ninh Thắng, Tiên Hoàng, Yên Từ (Yên Mô) 4 đảng bộ cơ quan xí nghiệp: Bưu điện, Thống kê, Kế hoạch, Vận tải đường sông đã đạt tiêu chuẩn Đảng bộ tiên tiến. Trong cuộc vận động này, các tổ chức cơ sở Đảng các cấp uỷ được kiện toàn củng cố.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX (tháng 9-1963), Tỉnh uỷ tổ chức đợt học tập Nghị quyết Hội nghị lần thứ III Ban chấp hanh Trung ương Đảng (khoá III), nhằm nâng cao nhận thức đúng đắn về tình hình nhiệm vụ quốc tế và đường lối cách mạng của Đảng ta trong giai đoạn cách mạng mới. Trong đợt học tập tháng 4 - 1964, Tỉnh uỷ mở 3 lớp tập trung cho 94 đồng chí là tỉnh uỷ viên và cán bộ cao cấp, trung cấp, 410 đồng chí cán bộ sơ cấp, 551 đồng chí cán bộ trung cấp kỹ thuật và cán sự. Đối với các đảng bộ cơ sở, Tỉnh uỷ chỉ đạo tổ chức học tập nội dung phần II của Nghị quyết về nhiệm vụ cách mạng giải phóng miền Nam.

Trong 2 năm (1964 - 1965), thực hiện cuộc vận động xây dựng chi bộ 4 tốt, Đảng bộ phấn đấu đạt kết quả rất quan trọng: Tính Đảng, tính giai cấp của đảng viên được nâng cao, đội ngũ đảng viên tăng cả số lượng và chất lượng, vai trò lãnh đạo của chi bộ được tăng cường; đảng viên nêu cao tinh thần trách nhiệm, gương mẫu trong sản xuất và chấp hành chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước; chi bộ Đảng coi trọng công tác xây dựng các đoàn thể quần chúng …. Chỉ tính riêng ở khu vực nông thôn đã kết nạp được 3.458 đảng viên mới, trong đó có 22,5% là nữ; 62,6% ở độ tuổi thanh niên. Đảng bộ chú trọng xây dựng Đảng cả về tư tưởng, chính trị và tổ chức. Qua cuộc vận động, số đảng viên xếp loại khá tăng từ 56,3% lên 60,7%. Tính đến tháng 2 - 1965, có 136 chi bộ đạt tiêu chuẩn “chi bộ 4 tốt”. Năm 1965, phát triển được 3.244 đảng viên mới, bằng cả 2 năm 1963 - 1964.

Đúng như Đảng ta đã đánh giá: “Mười năm qua, miền Bắc đã tiến những bước dài chưa từng có trong lịch sử dân tộc. Đất nước, xã hội, con người đều đổi mới” 19). Cùng với những biến đổi lớn lao của miền Bắc trong 10 năm qua, Ninh Bình từ một tỉnh nông nghiệp độc canh, công nghiệp hầu như chưa có gì, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, dựa vào sức mình là chính, nhân dân toàn tỉnh hăng say lao động sản xuất đã góp phần cùng cả nước đưa sự nghiệp cách mạng XHCN tiến lên giành nhiều thắng lợi to lớn.

Quán triệt đường lối cách mạng của Đảng, chấp hành các nghị quyết; chỉ thị của Trung ương, Đảng bộ lãnh đạo nhân dân trong tỉnh vượt qua khó khăn gian khổ tiến hành công cuộc khôi phục kinh tế hàn gắn vết thương chiến tranh, đấu tranh hoàn thành triệt để cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, cơ bản hoàn thành cải tạo XHCN với các thành phần kinh tế: nông nghiệp, thương nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở địa phương. Xác lập quan hệ sản xuất mới XHCN, từng bước phát triển kinh tế và văn hoá (1961 - 1965); cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH được xây dựng. Đồng thời tăng cường xây dựng củng cố quốc phòng và an ninh, sẵn sàng chiến đấu, tích cực chi viện cho cách mạng miền Nam thực hiện thống nhất Tổ quốc.

Trong thực tế đấu tranh cách mạng Đảng bộ từng bước nhận thức rõ hơn đặc điểm xây dựng miền Bắc XHCN trong điều kiện đất nước còn tạm thời bị chia cắt, nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN vừa xây dựng XHCN vừa cải tạo XHCN, kết hợp chặt chẽ 3 cuộc cách mạng: cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kỹ thuật, cách mạng tư tưởng văn hoá - trong đó cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt.

Đảng bộ xác định mục tiêu xây dựng địa phương thành hậu phương, căn cứ địa cách mạng cùng miền Bắc làm hậu thuẫn vững chắc tin cậy cho cách mạng miền Nam. Sáng suốt nhận định tình hình và có chủ trương kịp thời đúng đắn đối phó với chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ và đánh thắng chúng.

Những kết quả lao động sản xuất xây dựng CNXH trong 10 năm (1954 - 1964) đã làm cho Ninh Bình biến đổi to lớn, sâu sắc trên nhiều lĩnh vực đời sống xã hội, xây dựng được lớp người mới của chế độ xã hội mới CNXH.

Đó là thành tích to lớn, cơ bản, toàn diện và vững chắc; là những thuận lợi cho Đảng bộ và nhân dân Ninh Bình phát huy, tiếp tục phấn đấu, thi đua lao động sản xuất xây dựng chủ nghĩa xã hội và quyết tâm đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ, bảo vệ vững chắc miền Bắc XHCN, tích cực chi viện sức người sức của cho cách mạng miền Nam, cùng cả nước đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

__________

1. Trên địa bàn huyện Kim Sơn có 111 bốt lớn, chưa kể đồn nhỏ và tháp canh; xã Ninh An (Gia Khánh) có 1500 mẫu ruộng bỏ hoang hóa.

2. Việt Nam quốc dân đảng; Đại Việt duy dân (Sào Nam Lưu Phương); Mặt trận dân tộc giải phóng (Duy Tân, Nhân Phú); Đại Việt quốc gia liên minh (Ninh Nhất); Liên tôn diệt cộng; Đảng xã hội công giáo.

3. Đồng chí Vũ Công Hoan làm Chủ tịch.

4. Kim Sơn 92 cán bộ, Yên Khánh 32, Yên Mô 72, Gia Khánh 20.

5. Tính đến tháng 11-1954, số người bị dụ dỗ cưỡng ép di cư ở các trại tập trung (Kim Sơn) lên đến 10.027 người. Nhiều người, nhiều gia đình phải bán hết tài sản để chi tiêu sinh hoạt trong trại tập trung. Từ 28-10 đến 18-11-1954 dịch bệnh làm 19 người chết (có 11 trẻ em) và 422 người bị bệnh ốm đau. Trong các trại tập trung 2/3 số người theo đạo Thiên chúa ở Kim Sơn đã di cư vào Nam. Tính riêng tháng 11-1954 có 1678 hộ với 8171 người đã di cư vào Nam. Từ tháng 7-1954 đến tháng 5 -1955 có 39.378 giáo dân Ninh Bình bị cướng ép di cư vào Nam.

6. Tỉnh đã cấp cho huyện Nho Quan 10 tấn thóc, Gia Viễn 5 tấn, Gia Khánh 5 tấn để cấp phát hoặc cho những người bị đói vay. Huyện Yên Mô đã cho nông dân vay 400.000 đồng và 6 tấn thóc giống để sản xuất.

7. Năm xảy ra chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939 – 1945).

8. 125 lò rèn, 1450 khung cửi dệt vải, 1792 go dệt chiếu, 26 lò vôi, 19 lò gạch, 1 lò sành, 1 lò sứ.

9. Báo cáo tình hình nông thôn của ủy ban CCRĐ tỉnh Ninh Bình (tài liệu lưu trữ tại Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Ninh Bình).

10. Nông trường Đồng Giao thành lập năm 1955.

11. Năm 1956, đã xây dựng được 2 HTX nông nghiệp.

12. Hòn Khoai là một địa danh của tỉnh Bạc Liêu; một trong những địa phương diễn ra khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940, có 12 chiến sỹ cách mạng anh dũng hy sinh (Hòn Khoai thuộc Cà Mau, sau thuộc Bạc Liêu, nay thuộc Minh Hải). Quang Trung là tên một chiến dịch đánh quân Pháp diễn ra ở Ninh Bình tháng 5-1951. Từ ngày 27-11 đến ngày31-12-1960, cả tỉnh trồng được 9214 mẫu khoai lang, ngô, sắn, ủ và chế biến hơn 2 triệu 290 nghìn tấn phân; cấy xong 2/3 diện tích lúa chiêm năm 1961, hoàn thành công tác lương thực vụ mùa năm 1960.

13. HTX nông nghiệp Hoa Tiên thuộc huyện Gia Viễn. HTX nông nghiệp Đại Phong thuộc tỉnh Quảng Bình.

14. Năm 1965, báo “Ninh Bình xây dựng” đổi tên thành báo “Ninh Bình”. Năm 1976, báo “Ninh Bình” hợp nhất với báo “Nam Hà” thành báo “Hà Nam Ninh”. Tháng 4 – 1992, báo “Ninh Bình” lại tiếp tục xuất bản và phát hành.

15. Nhà máy phân lân Ninh Bình là nhà máy công nghiệp hóa chất phục vụ nông nghiệp đầu tiên miền Bắc. Lò sứ Kênh Gà, xưởng sản xuất miến dong, cói bẹ ngô xuất khẩu.

16. Xí nghiệp cơ khí Ninh Bình thành lập năm 1959.

17. Trong đó có 10.254 dân quân 1 và 9384 dân quân 2, 6745 dân quân nữ, 5532 tự vệ cơ quan xí nghiệp, 3568 cán bộ xã đội, đại đội, trung đội.

18. Đảng bộ xã được thành lập từ ssau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (9 – 1960).

19. Báo cáo chính trị của Hồ Chủ tịch tại Hội nghị chính trị đặc biệt tháng 3 - 1964