Nghị quyết Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc trong công tác xây dựng Đảng. Nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng và bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng có hiệu lực, hiệu quả; bản lĩnh chính trị của Đảng, của các tổ chức đảng, của cán bộ, đảng viên".

Hội nghị toàn quốc Ngành Tổ chức Xây dựng Đảng.(ảnh: Hiền Hoà)

Quán triệt và thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, đi đôi với những thời cơ, thuận lợi mới, tình hình quốc tế và trong nước cũng xuất hiện những diễn biến phức tạp, tác động đến công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ ta. Với những âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng Việt Nam, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch luôn coi chống phá về chính trị, tư tưởng và tổ chức đối với các Đảng Cộng sản là “tiêu điểm” quan trọng hàng đầu, có ý nghĩa quyết định. Do vậy, việc không ngừng xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức là nhiệm vụ rất quan trọng. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc trong công tác xây dựng Đảng. Nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng và bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng có hiệu lực, hiệu quả; bản lĩnh chính trị của Đảng, của các tổ chức đảng, của cán bộ, đảng viên”[1]. Đồng thời, Đảng ta yêu cầu trong nhiệm kỳ Đại hội XII, cần đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, phát huy mọi nguồn lực và động lực để phát triển đất nước nhanh, bền vững; đặc biệt chú trọng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có kết quả sáu nhiệm vụ trọng tâm, trong đó cần tập trung nhiệm vụ: Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”[2].

Trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch thực hiện là tác động chủ yếu từ bên ngoài. Nhưng nhân tố chủ quan, nguy cơ chủ yếu làm cho các nước xã hội chủ nghĩa bị “diễn biến hòa bình” lại nằm trong nội tại các nước đó, mà quan trọng nhất là trong nội bộ đảng cầm quyền ở các nước xã hội chủ nghĩa. Trong mối quan hệ giữa nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan, theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng thì nguyên nhân chủ quan, bên trong giữ vai trò quyết định sự phát triển của mọi sự vật. Do đó, việc tăng cường công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, đặc biệt là về chính trị, tư tưởng, tổ chức là tất yếu khách quan trong nhiệm vụ đấu tranh phòng chống “diễn biến hòa bình”.

Nguyên nhân trực tiếp, căn bản dẫn đến chính biến tại Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu trước đây là do Đảng cầm quyền tại các nước này đã không làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đã xa rời nguyên tắc tập trung dân chủ; buông lỏng sự lãnh đạo chính trị, tư tưởng của Đảng; nội bộ Đảng có sự thoái hóa, biến chất nghiêm trọng; việc lựa chọn những người kế tục sự nghiệp cách mạng không chính xác,…Các thế lực thù địch xác định chống phá về chính trị, tư tưởng, tổ chức là nội dung trọng tâm, là khâu quan trọng hàng đầu trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” ở Việt Nam. Họ nhằm loại bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với xã hội, qua đó làm suy yếu hệ thống chính trị, làm sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Trong đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, chúng ta còn bộc lộ nhiều hạn chế: Một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân có những biểu hiện mơ hồ, chưa nhận rõ âm mưu, thủ đoạn của chiến lược “diễn biến hòa bình”, cũng như tính chất gay go, ác liệt của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc trong điều kiện mới; “những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có những diễn biến phức tạp”[3] nhưng chúng ta còn “thiếu sắc bén trong đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”[4]. Đảng ta đã chỉ rõ: “Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị nước ta”[5]. “Hết sức chú trọng công tác bảo vệ Đảng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức”[6]. Bởi vậy, xin được đề xuất một số nội dung giải pháp sau:

Trước hết, tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đấu tranh bảo vệ, vận dụng sáng tạo và phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Tăng cường giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên, những cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành, bồi dưỡng nhận thức, lập trường, quan điểm và năng lực vận dụng Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tạo sự thống nhất cao trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội đối với Cương lĩnh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xây dựng nội bộ vững mạnh, củng cố vững chắc bên trong là chính, lấy “thế trận lòng dân” làm nền tảng.

Các cấp, các ngành, các địa phương, đơn vị, cơ quan, đoàn thể cần chủ động triển khai có hiệu quả đấu tranh trực tiếp trên mặt trận tư tưởng, lý luận. Sử dụng và phát huy hiệu quả các phương tiện của công tác tư tưởng đấu tranh phê phán những quan điểm tư tưởng, lý luận phản động, sai trái của các thế lực thù địch, không để lây lan và tác động xấu trong xã hội. Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn hoạt động tập hợp lực lượng, móc nối trong ngoài, không để công khai hóa, quốc tế hóa các tổ chức chính trị đối lập trong nước chống Đảng, Nhà nước. Tập trung giải quyết một bước căn bản, có hiệu quả các vấn đề ở những vùng trọng điểm và các vùng tập trung đông đồng bào dân tộc thiểu số, không để các thế lực thù địch lợi dụng gắn vấn đề dân tộc với vấn đề tôn giáo để kích động quần chúng biểu tình, bạo loạn, gây mất ổn định chính trị trên các địa bàn chiến lược.

Hai là, tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; coi đây là công việc thường xuyên của các tổ chức Đảng, các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị-xã hội, địa phương, đơn vị, gắn với chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ; gắn với thực hiện tốt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khoá XI) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, nâng cao chất lượng sinh hoạt, học tập của các tổ chức Đảng ở cơ sở, tăng cường tính chiến đấu của tổ chức Đảng và đảng viên. Giữ vững kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và trong xã hội, nhất là kỷ luật phát ngôn. Văn kiện Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Kiên quyết phòng, chống tham nhũng, lãng phí với yêu cầu chủ động phòng ngừa, không để xảy ra tham nhũng, lãng phí, bao che, dung túng, tiếp tay cho các hành vi tham nhũng, lãng phí, can thiệp, ngăn cản việc chống tham nhũng lãng phí”[7]. Đảng ta yêu cầu: Trong quá trình tự phê bình và phê bình tập trung làm rõ trách nhiệm của từng cá nhân trong thực hiện các nguyên tắc của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ và kiểm điểm về đạo đức, lối sống; nói đi đôi với làm của cán bộ, đảng viên do yêu cầu rất cao của đợt tự phê bình và phê bình lần này, cũng như những khó khăn, trì trệ, xem nhẹ lâu nay trong tiến hành tự phê bình và phê bình, trước khi kiểm điểm có những hình thức phù hợp để lấy ý kiến góp ý, gợi ý kiểm điểm, kể cả trong tập thể và cá nhân từng đảng viên. Ủy ban Kiểm tra Trung ương chủ trì phối hợp với các ban của Đảng xây dựng, kiến nghị với Bộ Chính trị, Ban Bí thư nội dung góp ý cho các cấp ủy viên ở những nơi cần thiết trước khi tiến hành tự phê bình và phê bình, đồng thời tổ chức kiểm tra, giám sát việc thực hiện. Có biện pháp kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong xã hội. Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, loại bỏ tư tưởng cơ hội, thực dụng, tình trạng thoái hóa biến chất trong Đảng, lối sống thực dụng trong một bộ phận cán bộ có chức, có quyền, những hình ảnh xấu về người cán bộ cách mạng trong nhân dân, tác động tiêu cực đến sự đồng thuận về tư tưởng trong xã hội, ngăn ngừa “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ.

Ba là, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đấu tranh có hiệu quả chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí và các tệ nạn xã hội. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc hoạch định các chủ trương, đường lối; xây dựng và quản lý Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật, phòng chống tham nhũng, lãng phí trong hệ thống chính trị và xã hội. Đẩy mạnh thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, xây dựng các thiết chế tuyên truyền vận động, tạo điều kiện cho nhân dân thực hiện quyền và nghĩa vụ trong phát triển sản xuất, tổ chức đời sống, tham gia xây dựng Đảng, kiểm tra, giám sát cơ quan, đơn vị, cán bộ, đảng viên, phát hiện và đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng.

Mở rộng dân chủ phải đi đôi với tăng cường kỷ luật, kỷ cương. Chủ động, kịp thời cung cấp, định hướng thông tin cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Sớm phát hiện và giải quyết khẩn trương các vấn đề bức xúc, các “điểm nóng” về những vấn đề khiếu kiện, đình công..., giữ vững ổn định chính trị-xã hội. Khắc phục tình trạng vô kỷ luật, dân chủ cực đoan, lợi dụng dân chủ để gây rối. Chủ động có các phương án ngăn chặn và làm thất bại âm mưu lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “tôn giáo”, “dân tộc” để gây rối chính trị, xuyên tạc lịch sử, nói xấu các cán bộ lãnh đạo Đảng. Củng cố, mở rộng tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng với các tổ chức thành viên, thực sự phát huy vai trò là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, là nơi phối hợp hành động của các tầng lớp nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; tham gia với Đảng và Nhà nước thực hiện quyền dân chủ, chăm lo, bảo vệ lợi ích chính đáng của các tầng lớp nhân dân; tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền, thực hiện giám sát của nhân dân đối với hoạt động, lối sống của cán bộ, đảng viên và các cơ quan nhà nước; giải quyết những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân.

Tiếp tục củng cố, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quan hệ của các tổ chức Đảng với tổ chức Nhà nước, mặt trận và các đoàn thể nhân dân để phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý điều hành của Nhà nước, thực hiện thành công hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Bốn là, đề cao tinh thần cảnh giác, chủ động phòng, chống nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Tự diễn biến là khái niệm chỉ sự vận động bên trong của mọi sự vật, hiện tượng. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” có thể xảy ra trên các mặt tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Quan trọng nhất là phải ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” về tư tưởng chính trị. Song không coi nhẹ mặt đạo đức, lối sống. Sự suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống sẽ dẫn đến tha hoá về tư tưởng chính trị. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” có thể có trong Đảng, trong hệ thống chính trị, trong xã hội; có thể có trong đảng viên, công chức, nhân dân, nhưng nguy hiểm hơn cả là trong cán bộ, nhất là cán bộ có chức, quyền, cán bộ trung cao cấp, cán bộ lãnh đạo, quản lý chiến lược, vĩ mô. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” là quá trình từ bỏ dần tư tưởng của chủ nghĩa xã hội, hướng dần theo những tư tưởng tư sản. Hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” về tư tưởng chính trị rất không đơn giản, cần được phân tích, nhận diện chính xác. Do đó, việc xác định đâu là biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” đòi hỏi phải lấy lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích của người lao động làm tiêu chí xem xét, đánh giá với phương pháp khoa học, tránh “chụp mũ”, quy kết vội vàng; đồng thời, không thể mất cảnh giác cho rằng “không có vấn đề gì”. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” là một hiện tượng mà sự nảy sinh và phát triển của nó có nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan.

Trạng thái “tự diễn biến”,  “tự chuyển hoá” xuất phát từ 3 nguyên nhân: (1).  Do hạn chế về trình độ hiểu biết, năng lực trí tuệ, năng lực thực tiễn; (2). Do sự thoái hóa về phẩm chất đạo đức, lối sống của từng cán bộ, đảng viên, nhất là những đảng viên có chức, có quyền trong hệ thống chính trị; (3). Vì chủ nghĩa cá nhân gây nên mất đoàn kết nội bộ, làm xuất hiện những cá nhân, nhóm người mâu thuẫn nhau về địa vị, lợi ích... Những nguyên nhân chủ quan nêu trên sẽ làm cho nội bộ suy yếu, mất sức đề kháng, tạo điều kiện thuận lợi cho các thế lực thù địch lợi dụng, can thiệp, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”..

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” vô cùng nguy hiểm, nó phụ thuộc chủ yếu vào chính mỗi người, vào sức mạnh và khả năng đề kháng của cơ thể xã hội XHCN như V.I.Lênin đã từng cảnh báo: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta. Toàn bộ vấn đề là ở chữ “nếu” này. Nếu chúng ta do sai lầm mà gây ra sự chia rẽ thì tất cả sẽ sụp đổ”[8].

Cuộc đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình” chỉ đạt được kết quả khi nó được gắn liền với cuộc đấu tranh đẩy lùi, khắc phục các nguy cơ nội sinh, như nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực, nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa và nguy cơ tham nhũng, tệ quan liêu, sự suy thoái về phẩm chất, đạo đức của cán bộ, đảng viên. Các nguy cơ này có mối liên hệ, tác động lẫn nhau. Sự yếu kém, những sai lầm, khuyết điểm của chúng ta là cơ sở cho các thế lực thù địch lợi dụng để tăng cường âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ. Sự tác động của “diễn biến hoà bình” thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” tạo ra những nhân tố nội xâm hết sức nguy hiểm, cho nên phải chủ động phòng ngừa, sớm phát hiện và triệt tiêu những nhân tố bên trong có thể dẫn đến đột biến bất lợi.

Đấu tranh chống “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, tổ chức là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, mà trước hết, trực tiếp là trách nhiệm của các cấp ủy đảng chứ không phải chỉ là nhiệm vụ của chính quyền các cấp. Vì vậy, từng cấp uỷ, từng ngành, từng địa phương, các cấp cần chủ động xây dựng kế hoạch và chương trình hành động đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, tổ chức nói riêng phù hợp với điều kiện và tình hình ở cơ quan, đơn vị, địa phương mình; phải đặt dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị; gắn với việc xây dựng, giữ vững và phát huy nhân tố nội lực mang tính quyết định.

Trong tình hình hiện nay, xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức là một nhiệm vụ cấp bách nhằm bảo đảm “nâng cao ý thức tự bảo vệ, tự đề kháng của cơ quan, đơn vị, cá nhân cán bộ, đảng viên trước những âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình; trên cơ sở tiếp tục xây dựng hoàn thiện các quy chế, chính sách quản lý cán bộ và công tác kiểm tra, giám sát cán bộ, chống nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Do vậy, phải “chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”[9]. Quán triệt tư tưởng chỉ đạo chú trọng cả hai nhiệm vụ “xây” và “chống” trong đó lấy xây dựng là chính; đồng thời, phải chủ động và có giải pháp đúng kết hợp chặt chẽ giữa chủ động ngăn chặn, phòng ngừa từ xa với chủ động tiến công làm thất bại âm mưu và ý đồ chống phá của các thế lực thù địch từ trong “trứng nước”, là phương châm đúng đắn, thể hiện rõ tư tưởng cách mạng tiến công trong chỉ đạo cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ ta. Yêu cầu cơ bản khi thực hiện phương châm này là, cùng với tích cực, chủ động giữ vững ổn định bên trong, phòng ngừa, ngăn chặn các tác động tiêu cực từ phía các thế lực thù địch, đồng thời phải có những biện pháp hữu hiệu tích cực, chủ động tổ chức các các đợt sinh hoạt học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình của mỗi cán bộ đảng viên bằng nhiều hình thức, qui mô trong các đợt học tập Nghị quyết Trung ương cùng các chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương khoá XI, XII của Đảng để ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến, “tự chuyển hoá” trong nội bộ cán bộ, đảng viên./.

 

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Văn phòng Trung ương Đảng. Hà Nội 2016. tr, 199.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Văn phòng Trung ương Đảng. Hà Nội 2016. tr, 217.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr.185.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 173.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 185.

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H. 2006, tr. 296-297.

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Văn phòng Trung ương Đảng. Hà Nội 2016. tr, 211.

[8] V.I.Lênin, toàn tập, nxb CTQG, H.2006, tập 42, tr.311.

[9] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr. tr.257.

Đại tá, PGS, TS KHQS Trần Nam Chuân